Bản án 244/2019/HNGĐ-ST ngày 01/10/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 244/2019/HNGĐ-ST NGÀY 01/10/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 01 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 485/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 279/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc V, sinh năm 1986. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Thái Thúc A, sinh năm 1985. (vắng mặt).

Đa chỉ: Ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 14 tháng 5 năm 2019 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc V trình bày: Chị và anh Thái Thúc A sau thời gian tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An vào ngày 05/5/2015. Khoảng đầu năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống. Đến tháng 3 năm 2017, Chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, từ đó vợ chồng sống ly thân. Hai bên gia đình có khuyên nhưng anh A không thay đổi. Nay, tình nghĩa vợ chồng không thể hàn gắn nên Chị xin ly hôn với anh A.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, chị V có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng anh A vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Thái Thúc An; anh A hiện có địa chỉ: Ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (Công an xã xác nhận) nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh A đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh A chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An vào ngày 05/5/2015 nên hôn nhân giữa Anh Chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Về yêu cầu ly hôn: Trong quá trình chung sống, chị V cho rằng đầu năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống. Đến tháng 3 năm 2017, Chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, từ đó vợ chồng sống ly thân. Hai bên gia đình có khuyên nhưng anh A không thay đổi. Nay, tình nghĩa vợ chồng không thể hàn gắn nên Chị xin ly hôn với anh A.

Đi với anh A, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định, biết được yêu cầu khởi kiện của chị V nhưng anh A không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị V. Tại phiên tòa hôm nay, anh A vẫn vắng mặt, chứng tỏ A không có thiện chí để hàn gắn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của A Chị không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị V đối với anh A là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về con chung: Chị V nêu không có. Anh A không có văn bản phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về tài sản chung: Chị V trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh A không có văn bản phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về nợ chung: Chị V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh A không có văn bản phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Chị V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc V đối với anh Thái Thúc A về việc “Ly hôn”.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc V được ly hôn với anh Thái Thúc A.

2. Về án phí: Chị V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004654 ngày 14/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Chị V đã nộp đủ.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 244/2019/HNGĐ-ST ngày 01/10/2019 về ly hôn

Số hiệu:244/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 01/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về