Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 22/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 24/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18A/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị KH, sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện PĐ, thành phố CT. (có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện CT, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 22/02/2019, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị KH trình bày: Chị với anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã X. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc. Sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đời sống chung không hòa hợp. Anh H thường xuyên bỏ mặt gia đình, không chăm lo, không làm tròn nghĩa vụ của người chồng, người cha. Năm 2012 anh H bỏ gia đình đi đến nay không rõ tin tức. Do đó chị KH yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh H được ly hôn. Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Thảo T, sinh ngày 15/11/2007 hiện đang sống với chị KH. Chị KH xin cho trẻ Nguyễn Thị Thảo T được tiếp tục sống với chị.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H, từ khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn H. Tuy nhiên anh H đều vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử là đúng theo quy định pháp luật.

[2] Chị KH và anh H có đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã X. Qúa trình chung sống chị KH và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh chị không sống chung với nhau, đã ly thân từ năm 2012 đến nay cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Quyết định số 01/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã có hiệu lực pháp luật đã tuyên bố anh Nguyễn Văn H mất tích. Tại tòa chị KH giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh H. Do đó để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chị KH, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị KH là phù hợp.

[3] Chị KH và anh H có 01 con chung là Nguyễn Thị Thảo T, sinh ngày 15/11/2007. Trẻ Nguyễn Thị Thảo T sống với chị KH từ nhỏ và có nguyện vọng được sống với chị KH nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về nợ chung: không có nên không đặt vấn đề giải quyết.

[6] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị KH phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị KH.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị KH và anh Nguyễn Văn H được ly hôn.

2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Thị Thảo T, sinh ngày 15/11/2007 cho chị Nguyễn Thị KH trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trẻ tròn 18 tuổi. Anh H chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho anh H, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Không có nên không đặt vấn đề giải quyết.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị KH phải chịu 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị KH đã nộp tạm ứng theo biên lai số 0018019 ngày 22/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị KH đã nộp đủ.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


80
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 22/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:24/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Hậu Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về