Bản án 23/2020/HS-ST ngày 22/05/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 23/2020/HS-ST NGÀY 22/05/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 22/5/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 26/02/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:20/2020/QĐXXST-HS, ngày 8/5/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Minh H; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm 1986; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Bản X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng;

Bố: Triệu Qu Ch, sinh năm 1948;Mẹ: Hoàng Thị Ng, (đã chết);

Vợ: Nông Thị H1, sinh năm 1987; Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03;

Tiền án: Bản án số 46/2014/HSST ngày 02/7/2014, Triệu Minh H bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Đánh bạc”. (Số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc trong vụ án là 14.450.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/8/2014, chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 19/11/2019.

Tiền sự: Không có;

Nhân thân: Ngày 26/10/2012, bị Công an xã Xuân Lương, huyện Yên Thế ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 05/11/2012;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 20/4/ 2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thế ra quyết định truy nã đến nay chưa bắt được. (Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa) * Người làm chứng:

1. Lý Văn N, sinh năm 1989 (vắng mặt) Địa chỉ: Bản L, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

2. Trần Văn C, sinh năm 1979 (vắng mặt)

3. Phan Đức T, sinh năm 1965 (vắng mặt)

4. Đặng Văn Đ, sinh năm 1971 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: Bản X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

5. Đặng Văn T1, sinh năm 1986 (vắng mặt)

6. Đỗ Văn H2, sinh năm 1984 (vắng mặt)

7. Nông Văn S, sinh năm 1973 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: Bản C, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 12h ngày 22/8/2016, Nông Văn S đang ở nhà thì Triệu Minh H điện thoại hỏi “Có gì không ông, làm tí”. Nghe H hỏi vậy, S hiểu ý H hỏi có ai đánh bạc tại nhà S không để H đến nên S nói “Chưa, giờ tao đang ngủ”. Khoảng 20 phút sau, Đỗ Văn H2 gọi điện thoại hỏi S có ai đánh bạc không thì S nói “Chưa, nãy bọn thằng H nó cũng gọi điện cho tao” rồi tắt điện thoại ngủ tiếp. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, S dậy rồi đi bộ s nhà bố đẻ là ông Nông Văn K ở cùng bản thì thấy Lý Văn N đang đánh cờ tướng với ông K tại bàn uống nước trong nhà ông K. Khoảng 10 phút sau có Đặng Văn đang đi xe máy một mình đến nhà ông K. Một lúc sau thì Đỗ Văn H2 cũng đến nhà ông K. Lúc này, S lấy 02 ch cói từ trên giường kê ở gian nhà bên phải, trải xuống nền gian nhà bên phải (hướng đi từ ngoài vào), rồi lấy một bộ bài tú lơ khơ đặt xuống ch vừa trải. Sau đó, Ngọc không đánh cờ tướng với ông Khải nữa mà cùng S, H2, đang ngồi xuống chiếu và sử dụng bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh Liêng được thua bằng tiền, khi đó ông K đi vào buồng trong để nằm nghỉ. Do đang ngồi sát cạnh giường và bị ngồi ra nền nhà nên đang lấy tiếp 01 chiếu từ trên giường xuống để ngồi đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc được khoảng 15 phút thì Triệu Minh H đến và ngồi cùng tham gia đánh bạc. H đến đánh bạc được khoảng 05 phút thì Đặng Văn T1 đến ngồi xem đánh bạc một lúc thì cũng tham gia đánh bạc. T1 tham gia đánh bạc được khoảng 10 phút thì Phan Đức T đến và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Tài tham gia đánh bạc được khoảng 10 phút sau thì Trần Văn C đi xe máy một mình đến và tham gia đánh bạc. đang đánh bạc được khoảng 5 ván thì bị thua hết tiền nên nghỉ lên giường cạnh đó nằm, còn các đối tượng S, H1, H, T1, T, C, N tiếp tục đánh bạc thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang. H1, S, Đ, H bỏ chạy thoát. Tang vật thu giữ gồm. Tiền thu tại ch bạc 4.130.000đ (Bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng); 52 quân bài tú lơ khơ, 03 chiếv cói đôi đã cũ, 02 ví da, 08 điện thoại di động, 05 xe mô tô, tiền khám thu trong người Trần Văn C 1.400.000đ Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài để đánh bạc. Hình thức đánh bạc là: Trong mỗi ván bạc mỗi người chơi đặt vào giữa ch bạc số tiền 20.000đồng gọi là tiền gà hoặc tiền tẩy để tham gia đánh bạc và được chia 03 quân bài để tính điểm rồi tham gia tố. Sau khi tố xong thì những người tham gia tố so bài với nhau, nếu bài của ai cao hơn thì thắng được cả số tiền “gà” và tiền của những người tham gia tố ở giữa chiếu bạc, người thắng ván trước sẽ được chia bài ván sau. Trong đánh Liêng quy định thứ tự từ cao đến thấp lần lượt như sau: Sáp là 03 quân bài giống nhau ví dụ: 999; JJJ… Trong Sáp thì Sáp AAA là cao nhất; Sáp 222 là nhỏ nhất. Liêng là 03 quân bài liên tiếp liền kề nhau không nhất thiết phải đồng chất, đồng màu ví dụ: 456; JQK… . Trong Liêng thì Liêng QKA là cao nhất, Liêng A23 là nhỏ nhất. Tranh ảnh, đầu người là có 03 quân bài đầu người trong đó có 02 quân bài giống nhau ví dụ: JJK; QQK… rồi đến cộng điểm. Khi cộng điểm thì 9 điểm là cao nhất, các quân bài 10,J,Q,K tính là 0 điểm. Sau khi được chia bài những người chơi xem bài của mình nếu bài của ai điểm cao thì tham gia tố, thứ tự tố lần lượt từ phải qua trái bắt đầu từ người chia bài. Các đối tượng quy định người tố sau không được tố cao hơn người tố trước 100.000 đồng. Nếu bài của ai thấp có thể bỏ không tố ván bạc đó và bị mất số tiền “gà” là 20.000đồng đã đặt vào giữa ch bạc. Trong mỗi ván bạc nếu bài của ai được Sáp thì những người chơi còn lại phải trả cho người đó 100.000đồng, nếu bài của ai được Liêng đồng hoa nghĩa là có 03 quân bài liên tiếp liền kề nhau và đồng chất, đồng mầu thì mỗi người chơi còn lại phải trả cho người đó 50.000đồng.

Các đối tượng khai nhận sử dụng số tiền để tham gia đánh bạc như sau: Phan Đức T sử dụng 210.000 đồng; Đặng Văn T1 sử dụng 220.000đồng; Đỗ Văn H1 sử dụng 1.000.000 đồng; Lý Văn N sử dụng 500.000 đồng; Nông Văn S sử dụng 370.000 đồng; Trần Văn Csử dụng 200.000đồng; Đặng Văn đang sử dụng 170.000đồng. Quá trình đánh bạc không ai thu tiền hồ, canh gác cho các đối tượng đánh bạc.

Quá trình đánh bạc các đối tượng thống nhất nếu ai thắng thì bỏ tiền ra cạnh ch để cho ông K. Cho đến khi bị bắt quả tang, Đỗ Văn H1 đã bỏ ra cạnh chiếu 20.000đồng nhưng chưa đưa cho ông K và đã bị thu giữ cùng với số tiền tại chiếu bạc.

Quá trình điều tra, Triệu Minh H đã bỏ trốn. Ngày 06/11/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thế đã ra Quyết định truy nã. Ngày 15/12/2019, Triệu Minh H ra đầu thú tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thế. Quá trình đầu thú và điều tra, Cơ quan điều tra không tạm giữ đồ vật, tài sản gì của H. H khai nhận sử dụng 300.000 đồng đánh bạc đã bị thua hết trước khi bỏ chạy thoát.

Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại Cáo trạng số: 13/KSĐT, ngày 25-02-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Triệu Minh H về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự 1999.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

1. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248; Điểm p, khoản 1, khoản 2 điều 46; Điều 20, Điều 53; Điều 33 Bộ luật hình sự 1999. Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt Triệu Minh H từ 8 đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” ; thời hạn tù được tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo H.

Về vật chứng: Trả lại bị cáo H 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE biển kiểm soát 20L4-4102; 01 điện thoại NOKIA X1 vỏ màu đen Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo miễn tiền án phí cho bị cáo. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1.[Về Tố tụng]:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Yên Thế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, không có người nào có ý kiến hoặc kh nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tòa án nhân dân huyện Yên Thế có quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 25/3/2020, tống đạt hợp lệ cho bị cáo. Nhưng bị cáo không đến tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do, Qua xác minh được biết bị cáo đã trốn khỏi địa phương. Ngày 20/4/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thế ra quyết định truy nã, đến nay chưa bắt được bị cáo. Căn cứ Điểm a, khoản 2, điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Triệu Minh H. 2.

[Về tội danh]: Tại phiên tòa hôm nay mặc dù bị cáo H vắng mặt xong căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố đều thừa nhận khoảng 14 giờ ngày 22/8/2016 H có gọi điện thoại cho anh S ở C, X, Y và hỏi xem có ai đánh bạc không, anh S trả lời là có mọi người đang đánh ở nhà ông K (là bố đẻ anh S), H đi sang đến nơi thấy có Lý Văn N, Trần Văn C, Phan Đức T, Đặng Văn T1, Đỗ Văn H1, Nông Văn S, Đặng Văn đang đang đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng được thua bằng tiền tại gian phòng khách nhà ông K. H vào tham gia đánh bạc cùng mọi người được khoảng 30 phút thì bị lực lượng công an bắt quả tang. Bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 15/12/2019 bị cáo về và ra đầu thú. Quá trình bắt giữ các đối tượng khai nhận sử dụng tiền tham gia đánh bạc như sau: Phan Đức T sử dụng 210.000đ, Đặng Văn T1 sử dụng 220.000đ, Đỗ Văn H1 sử dụng 1.000.000đ, Lý Văn N sử dụng 500.000đ, Nông Văn S sử dụng 370.000đ, Trần Văn C sử dụng 200.000đ, Đặng Văn đang sử dụng 170.000đ Triệu Minh H sử dụng 300.000đ. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc bị thu giữ là 4.130.000đồng (Bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng). Triệu Minh H có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích.

Trong vụ án, Trần Văn C đã có 01 tiền án về tội Đánh bạc nhưng đã được xóa án tích. Nông Văn S, Đặng Văn T1, Đỗ Văn H1, Lý Văn N đều chưa có tiền án, tiền sự gì. Căn cứ Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 và Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về xử lý hành vi đánh bạc trái phép dưới 5.000.000đồng; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017-NQ-QH ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước, xử lý theo hướng có lợi cho người phạm tội, xét thấy hành vi đánh bạc nêu trên của các đối tượng này không còn nguy hiểm cho xã hội nữa nên Công an huyện Yên Thế đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với Đặng Văn đang bị bệnh tâm thần phân liệt nên Công an huyện Yên Thế không xử lý hành chính là có căn cứ Phan Đức T đã bị xử lý tại Bản án số 31/2016/HS-ST ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế. Ông Nông Văn K không biết các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình nên không xử lý.

Lời khai của trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với không gian, thời gian địa điểm phương thức thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ được điều đó có đủ cơ sở chắc chắn để khẳng định Triệu Minh H phạm tội “Đánh bạc”. Do vậy Cáo trạng số 13/CT-VKS-YT ngày 25-02- 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, điều đó thể hiện bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tới trật tự an toàn công cộng. Mục đích đánh bạc là nhằm thu lợi bất chính, hậu quả hành vi đánh bạc không chỉ đơn thuần là sát phạt về kinh tế mà còn là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và ảnh hưởng đến kinh tế của mỗi gia đình.

* Xét vai trò bị cáo trong vụ án thì thấy đây là vụ án đánh bạc có đồng phạm được tổ chức với hình thức đồng phạm giản đơn bị cáo đến tham gia đánh bạc sau, số tiền tham gia đánh bạc ít nên giữ vai trò thứ yếu.

* Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ được tặng thưởng huân chương chiến công giải phóng. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy. Bị cáo có nhân thân xấu năm 2012 bị Công an xã X xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; tháng 7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, Tỉnh Thái Nguyên xử 6 tháng tù cũng về tội “Đánh bạc”. Lần này tiếp tục thực hiện hành vi “Đánh bạc”. sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương một thời gian dài từ tháng 8/2016 đến 12/2019 mới ra đầu thú. Tưởng rằng trong thời gian trốn tránh cơ quan pháp luật bị cáo đã ăn năn hối cải ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Nhưng sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo tiếp tục bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho việc xét xử. Do vậy lần này cần thiết bắt bị cáo cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội sau này.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền do bị cáo thuộc hộ cận nghèo, thu nhập không có nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đã được xem xét, giải quyết tại Bản án số 31/2016/HS-ST ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 20L4-4102 và 01 điện thoại NOKIA X1 bị thu giữ khi bắt quả t là của Triệu Minh H không sử dụng vào mục đích đánh bạc, bị cáo đề nghị xin lại. Áp dụng điểm a, b khoản 1; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2, khoản 3, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

Đối với chiếc điện thoại H sử dụng liên lạc với S để đến đánh bạc, do H không biết bị rơi ở đâu nên không có căn cứ để truy tìm.

Về tiền án phí: bị cáo thuộc hộ cận nghèo được miễn tiền án phí. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Tuyên bố bị cáo: Triệu Minh H phạm tội “Đánh bạc” * Về điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS năm 2015: Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Về hình phạt: Xử phạt Triệu Minh H: 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo Triệu Minh H: 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE biển kiểm soát 20L4-4102; 01 điện thoại NOKIA X1 vỏ màu đen, số IMEL 1: 359032/04/158170/3; số IMEL 2: 359032/04/158171/1.

- Về tiền án phí: Áp dụng điểm đang khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí cho bị cáo H.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án.


19
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 23/2020/HS-ST ngày 22/05/2020 về tội đánh bạc

      Số hiệu:23/2020/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thế - Bắc Giang
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:22/05/2020
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về