Bản án 23/2018/DS-ST ngày 29/05/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH T

BẢN ÁN 23/2018/DS-ST NGÀY 29/05/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 29 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2018/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2018/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà TẠ THỊ KIM S, sinh năm 1968 - (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 53/11B, Tổ 21, ấp Trường Giang, xã Trường Tây, huyện H, tỉnh T.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 02/01/2018):

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 26, đường QH1 - Trường Chinh, Khu phố 5, Phường 3, thành phố T, tỉnh T - (có mặt).

- Đồng bị đơn:

+ Ông NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1960 - (vắng mặt)

+ Bà MANG THỊ H, sinh năm 1957 - (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số nhà 123/11A, Tổ 22B, ấp Long Thành, xã Long Thành Trung, huyện H, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 12 năm 2017 và lời trình bày của bà Tạ Thị Kim S và người đại diện hợp pháp của bà S là anh Nguyễn Văn T trong quá trình thu thập chứng cứ thể hiện như sau:

Do quen biết nên bà S có tham gia chơi hụi do vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Mang Thị H làm chủ, cụ thể như sau:

1/ Dây hụi mệnh giá 5.000.000 đồng, gồm 22 phần, mỗi tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 04/02/2012 âm lịch, bà S tham gia 01 phần, trong danh sách hụi viên ghi tên S ở số thứ tự 12, đã góp được 10 kỳ thành tiền là 50.000.000 đồng.

2/ Dây hụi mệnh giá 1.000.000 đồng, gồm 22 phần, mỗi tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 17/4/2012 âm lịch, bà S tham gia 01 phần, trong danh sách hụi viên ghi tên S ở số thứ tự 22, đã góp được 06 kỳ thành tiền là 6.000.000 đồng.

Tổng cộng: 02 phần hụi ông T, bà H còn nợ bà S 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng). Trong số 56.000.000 đồng, bà S không xác định số tiền gốc bà đã đóng hụi cho ông T, bà H là bao nhiêu, vì cứ tới kỳ hụi ông T, bà H đến nhà gom tiền nói bao nhiêu thì bà góp bấy nhiêu, bà không ghi sổ theo dõi Tng kỳ.

Mỗi dây hụi ông T, bà H đều có giao danh sách hụi viên cho bà để theo dõi. Ngày 21/11/2012 ông T, bà H tuyên bố vỡ hụi và bỏ nhà đi khỏi địa phương đến ngày 31/01/2013 trở về nhưng vẫn không trả tiền cho bà, đến ngày Mùng 5 Tết năm 2013 gia đình ông T, bà H bỏ trốn cho đến nay, giữa bà với ông T, bà H không có giấy chốt nợ tiền hụi. Ngay sau khi cả nhà ông T, bà H bỏ trốn, bà có cùng với các hụi viên khác khởi kiện ra Tòa, Tòa án cho rằng có dấu hiện hình sự nên kêu bà và các hụi viên khác làm đơn tố cáo gửi Công an huyện H xử lý, bà cùng với một số hụi viên khác có tố cáo vợ chồng ông T, bà H gửi Công an huyện H xử lý nhưng Công an trả lời là tranh chấp dân sự phải khởi kiện qua Tòa án nên chưa giải quyết được. Đến năm 2016 con của ông T, bà H bán đất của ông T, bà H cho người khác nên bà tiếp tục khởi kiện ra Tòa án. Sau khi thụ lý, do ông T, bà H đã bỏ địa phương đi đâu không rõ đi nên bà rút đơn. Đến năm 2017 sau khi biết tin cơ quan Thi hành án huyện H bán nhà đất của vợ chồng ông T, bà H để thi hành án cho người khác còn dư tiền Chi cục Thi hành án dân sự huyện H đang giữ nên nay bà tiếp tục khởi kiện. Nay bà S yêu cầu ông T, bà H trả số tiền hụi còn nợ tổng cộng là 56.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

Trong quá trình thu thập chứng, Tòa án nhiều lần triệu tập ông T, bà H để lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải nhưng không lần nào ông T, bà H đến nên không lấy được lời khai của ông T, bà H. Tại biên bản xác minh ông Đoàn Văn Trung - Trưởng Ban quản lý ấp Long Thành ngày 04/01/2018 thể hiện: Ông Nguyễn Văn Tvà bà Mang Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà 123/11A, Tổ 22B, ấp Long Thành, xã Long Thành Trung, huyện H, tỉnh T, do làm ăn thất bại, thiếu nợ nhiều người nên đã bỏ nhà đi T năm 2014 đến nay, hiện ông T, bà H ở đâu địa phương không biết. Do ông T, bà H không có mặt ở địa phương nên Tòa án tống đạt hợp lệ các giấy triệu tập, văn bản cho ông T, bà H bằng thủ tục niêm yết công khai để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, bà S trình bày dây hụi mệnh giá 5.000.000 đồng, trung bình mỗi kỳ khui hốt hụi là 1.500.000 đồng, góp 3.500.000 đồng; dây hụi mệnh giá 1.000.000 đồng, trung bình mỗi kỳ khui hốt hụi là 300.000 đồng, góp 700.000 đồng; bà yêu cầu ông Tvà bà H trả số tiền gốc 39.200.000 đồng và tính tiền lãi theo quy định của pháp luật là 9%/ năm Tngày bà ngưng đóng hụi cho đến nay; ông Tvà bà H vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể T khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S, buộc ông Tvà bà H cùng có nghĩa vụ trả cho bà S số tiền gốc 39.200.000 đồng và tính tiền lãi theo quy định của pháp luật T lúc bà S ngưng đóng hụi cho đến nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng:

Ông T, bà H là đồng bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà H.

 [2] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào các danh sách hụi viên do bà S cung cấp thể hiện bà S có tham gia chơi hụi do ông T, bà H làm chủ là có thật. Sau khi bị vỡ hụi ông T, bà H đã bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống không trả lại tiền góp hụi cho bà S là vi phạm về nghĩa vụ Ttoán, nên bà S khởi kiện. Do đó, xác định đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng góp hụi được quy định tại Điều 479 của Bộ luật dân sự năm 2005.

 [3] Về nội dung vụ án:

Xét dây hụi mệnh giá 5.000.000 đồng, gồm 22 phần, mỗi tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 04/02/2012 âm lịch đến ngày 04/11/2013 âm lịch mãn; dây hụi mệnh giá 1.000.000 đồng, gồm 22 phần, mỗi tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 17/4/2012 âm lịch đến ngày 17/01/2014 âm lịch mãn.

Tại các biên bản xác minh ông Nguyễn Minh Sang, bà Nguyễn Mỹ Châu đều trình bày có cùng với bà S tham gia chơi hụi do ông T, bà H làm chủ, ông T, bà H tuyên bố vỡ hụi và bỏ nhà đi đâu không rõ T khoảng tháng 02/2013 đến nay, sau khi ông T, bà H bỏ trốn khỏi địa phương còn nợ tiền hụi của nhiều người, Trưởng Ban quản lý ấp Long Thành cũng xác nhận. Do đó, việc bà S trình bày đã góp được 10 kỳ hụi mệnh giá 5.000.000 đồng, trung bình mỗi kỳ khui hốt hụi là 1.500.000 đồng, góp 3.500.000 đồng x 10 kỳ thành tiền là 35.000.000 đồng + 06 kỳ hụi mệnh giá 1.000.000 đồng, trung bình mỗi kỳ khui hốt hụi là 300.000 đồng, góp 700.000 đồng x 06 kỳ thành tiền là 4.200.000 đồng, tổng cộng bà S đã góp tiền hụi gốc 39.200.000 đồng xét thấy phù hợp, nên cần buộc ông T, bà H có nghĩa vụ trả cho bà S số tiền hụi gốc còn nợ 39.200.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật 9%/ năm T ngày bà S ngưng đóng hụi cho đến nay là có cơ sở chấp nhận, tiền lãi được tính như sau:

- Hụi mệnh giá 5.000.000 đồng bắt đầu khui ngày 04/02/2012 âm lịch (tức ngày 25/02/2012 dương lịch), góp 10 kỳ đến ngày 04/11/2012 âm lịch (tức ngày 16/12/2012 dương lịch): 35.000.000 đồng x 0,75%/ tháng x 65 tháng 13 ngày (T ngày 25/02/2012 DL đến ngày 29/5/2018 DL) = 17.176.500 đồng.

- Hụi mệnh giá 1.000.000 đồng bắt đầu khui ngày 17/4/2012 âm lịch (tức ngày 06/6/2012 dương lịch), góp 06 kỳ đến ngày 17/9/2012 âm lịch (tức ngày 31/10/2012 dương lịch): 4.200.000 đồng x 0,75%/ tháng x 66 tháng 28 ngày (T ngày 31/10/2012 DL đến ngày 29/5/2018 DL) = 2.108.000 đồng.

Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 58.484.500 đồng (năm mươi tám triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm đồng).

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H là có cơ sở chấp nhận.

Ông T, bà H phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 479 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị Kim S đối với ông Nguyễn Văn Tvà bà Mang Thị H. Buộc ông Nguyễn Văn Tvà bà Mang Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Tạ Thị Kim S số tiền hụi còn nợ gốc và lãi là 58.484.500 đồng (năm mươi tám triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm đồng).

Kể T ngày bà S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T, bà H không chịu trả số tiền trên thì hàng tháng ông T, bà H còn phải trả cho bà S số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí sơ thẩm dân sự: Ông Nguyễn Văn Tvà bà Mang Thị H phải chịu 2.924.000 đồng (hai triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng). Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh T hoàn trả cho bà Tạ Thị Kim S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004987 ngày 28 tháng 12 năm 2017.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bà Tạ Thị Kim S biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T để xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể T ngày tuyên án. Riêng ông Nguyễn Văn Tvà bà Mang Thị H vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể T bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

163
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/DS-ST ngày 29/05/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:23/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hương Thủy - Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về