Bản án 20/2020/HNGĐ-ST ngày 26/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con  

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VB, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 20/2020/HNGĐ-ST NGÀY 26/05/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 338/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D; nơi cư trú: Thôn VL 1, xã TP, huyện VB, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn K; nơi cư trú: Thôn VL 1, xã TP, huyện D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Bùi Thị D trình bày: Chị và anh Lê Văn K kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày ngày 14-11-1998. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2018 do anh K chơi cờ bạc, rượu chè, đánh đập chị dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn. Năm 2019 chị đã về gia đình chị ở cùng thôn sinh sống. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ năm 2018 đến nay, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị D xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn K.

Về con chung: Chị và anh Lê Văn K có 04 con chung là Lê Thị Huyền T, sinh ngày 26-11-1999 hiện đã trưởng thành, Lê Thị T, sinh ngày 22-9-2007, Lê Thị Hồng V, sinh ngày 30-4-2013, Lê Quốc L, sinh ngày 08-02-2015. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con Lê Quốc L cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lê Thị T và Lê Thị Hồng V cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh K .

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, anh Lê Văn K xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Bùi Thị D trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận được thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2018 do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn. Năm 2019 chị D đã về gia đình chị ở cùng thôn sinh sống. Anh đến tìm nhưng chị D không về đoàn tụ gia đình. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị D xin ly hôn anh không đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Bùi Thị D 04 con chung là Lê Thị Huyền T, sinh ngày 26-11-1999 hiện đã trưởng thành, Lê Thị T, sinh ngày 22-9-2007, Lê Thị Hồng V, sinh ngày 30-4-2013, Lê Quốc L, sinh ngày 08-02-2015. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao 03 con chung là Lê Thị T, Lê Thị Hồng V và Lê Quốc L cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị D .

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng mặt bị đơn và các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án như việc giao nộp chứng cứ, tham các phiên họp, phiên hòa giải theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Lê Văn K. Về con chung: Giao con Lê Thị T và Lê Thị Hồng V cho chị Bùi Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lê Quốc L cho anh Lê Văn K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị D và anh K tự giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị D và anh Lê Văn K không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Anh Lê Văn K có hộ khẩu thường trú tại VL 1, xã TP, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Bùi Thị D và anh Lê Văn K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, anh Lê Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Văn K.

- Về nội dung vụ án:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị D và anh Lê Văn K kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TP, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 14- 11-1998, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên vợ chồng xảy ra xảy ra bất hòa. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị D nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K . Quá trình giải quyết vụ án, anh K không đồng ý ly hôn với chị D . Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Bùi Thị D và anh Lê Văn K đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Bùi Thị D xin ly hôn với anh Lê Văn K phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Bùi Thị D và anh Lê Văn K có 04 con chung là Lê Thị Huyền T, sinh ngày 26-11-1999 hiện đã trưởng thành, Lê Thị T, sinh ngày 22- 9-2007, Lê Thị Hồng V, sinh ngày 30-4-2013, Lê Quốc L, sinh ngày 08-02-2015. Khi ly hôn, chị D xin nuôi con Lê Thị T và Lê Thị Hồng V, đề nghị Tòa án giao con Lê Quốc L cho anh K nuôi dưỡng, anh K đề nghị Tòa án giao cả 03 con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Xét yêu cầu nuôi con của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Anh K và chị D đều có nơi ở và thu nhập, tuy nhiên con chung Lê Thị T và Lê Thị Hồng V đều nguyện vọng xin được ở với mẹ, con chung Lê Quốc L đang ở với anh K được anh trực tiếp chăm sóc, chu đáo. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị D , giao con Lê Thị T và Lê Thị Hồng V cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lê Quốc L cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị D và anh K xin tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị D và anh Lê Văn K không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Bùi Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Lê Văn K.

2. Về con chung: Giao con Lê Thị T, sinh ngày 22-9-2007 và Lê Thị Hồng V, sinh ngày 30-4-2013 cho chị Bùi Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lê Quốc L, sinh ngày 08-02-2015 cho anh Lê Văn K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Bùi Thị D và anh Lê Văn K tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị D và anh Lê Văn K không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị D đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007930 ngày 02-12-2019. Chị Bùi Thị D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2020/HNGĐ-ST ngày 26/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con  

Số hiệu:20/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về