Bản án 35/2019/HNGĐ-ST ngày 08/08/2019 ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH BÌNH

 BẢN ÁN 35/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/08/2019 LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 140/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996

- Bị đơn: anh Phạm Văn L, sinh năm 1991 Cùng trú tại: Thôn Th, xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Hiện anh L đang chấp hành án tại Phân trại 4, Trại giam Ninh Khánh.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị Nh, sinh năm 1955

Trú tại: Thôn Th, xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

(Chị H có mặt. Anh L và bà Nh vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 5 năm 2019 và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn L kết hôn với nhau năm 2011, tuy nhiên thời điểm đó chị chưa đủ tuổi kết hôn nên không thực hiện việc đăng ký kết hôn. Đến năm 2014 chị và anh Lâm mới đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng anh chị sinh sống tại xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình cùng gia đình anh L. Hai vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh L chơi bời sa đà vào tệ nạn xã hội. Anh L thường hành hạ chị cả về thể xác lẫn tinh thần. Năm 2015 anh L phải đi chấp hành án 6 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Trại giam Ninh Khánh. Chị xác định mâu thuẫn giữa chị và anh L trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng nên chị xin ly hôn với anh L để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Chị xác định chị và anh L có 01 con chung là cháu Phạm Nhật Tú sinh ngày 08/11/2012. Hiện nay cháu đang ở với mẹ anh Lâm là bà Hà Thị Nhiếp tại Thôn Th, xã Ph, huyện N. Nguyện vọng của chị xin tiếp tục nuôi cháu và không yêu cầu anh Lâm cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của bị đơn anh Phạm Văn L được thể hiện tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, cụ thể: Anh L xác nhận thời điểm kết hôn và chung sống như chị H trình bày là đúng. Tuy nhiên theo anh mâu thuẫn giữa anh và chị Hải là mâu thuẫn nhỏ. Do kinh tế và hoàn cảnh xô đẩy dẫn đến việc anh phạm tội. Anh cho rằng việc chị H xin ly hôn với anh cũng có phần lỗi do anh dẫn đến vợ con phải khổ. Nay chị H xin ly hôn thì anh xin chị H suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp chị H vẫn cương quyết xin ly hôn với anh thì tùy chị H và Tòa án. Về con chung anh cũng xác nhận anh và chị H có 01 con chung là cháu Phạm Nhật T sinh ngày 08/11/2012, hiện nay cháu đang ở với mẹ anh là bà Hà Thị Nh. Do anh không đồng ý ly hôn nên anh không thể hiện quan điểm về việc nuôi con chung sau ly hôn. Về tài sản chung, công nợ chung: anh xác định không có.

Ý kiến của bà Hà Thị Nh tại bản tự khai ngày 09/7/2019: Bà xác nhận anh L và chị H có 01 con chung là cháu Phạm Nhật T sinh ngày 08/11/2012, hiện nay cháu đang ở với bà. Trong suốt thời gian anh L đi chấp hành án thì bà là người chăm sóc và nuôi dưỡng cháu. Hiện nay cháu đang ở ổn định và đi học tại Trưởng Tiểu học xã Ph, huyện N. Bà đề nghị Tòa án giải quyết để đảm bảo sự ổn định và quyền lợi cho cháu T.

Tại biên bản xác minh ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện N, UBND xã Ph có quan điểm như sau: Ủy ban xác nhận thời điểm kết hôn, đăng ký kết hôn và chung sống như các đương sự trình bày là đúng. Bản thân anh L chơi bời và phải đi chấp hành án về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Hiện nay cháu Phạm Nhật T đang ở với bà nội là bà Hà Thị Nh tại Thôn Th, xã Ph, huyện N. Ủy ban xã đề nghị Tòa án căn cứ quy định giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự và đảm bảo quyền lợi cho cháu Phạm Nhật T.

Ngày 04 tháng 6 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý vụ án về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện N đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thủ tục pháp luật quy định.

Tại phiên tòa chị Hải vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh L và xin nuôi con chung.

Tại đơn xin xử vắng mặt anh L, bà Nh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản tự khai.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: đề nghị HĐXX:

Căn cứ điều điều 5, 147, 227, 228, 266, 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn L.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Nhật T sinh ngày 08/11/2012, hiện cháu đang ở với bà Hà Thị Nh (tại Thôn Th, xã Ph, huyện N) cho chị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí ly hôn: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Thôn Th, xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống được với nhau được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L chơi bời sa vào tệ nạn xã hội phải đi chấp hành án. Bản thân anh L cũng thừa nhận nguyên nhân dẫn đến việc chị H làm đơn xin ly hôn với anh cũng 1 phần do lỗi của anh làm khổ vợ con. Mặc dù anh L không đồng ý ly hôn xong anh đang chấp hành án phạt tù, trên thực tế chị H và anh L đã ly thân từ năm 2015 đến nay, không còn tình cảm với nhau chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh L là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2].Về con chung: Nguyện vọng của chị H xin được tiếp tục nuôi con chung là cháu Phạm Nhật T sinh ngày 08/11/2012, hiện nay cháu đang ở với bà Hà Thị Nh là bà nội cháu, Hội đồng xét xử thấy: Xét điều kiện anh L hiện nay đang phải chấp hành án phạt tù vì vậy không thể có điều kiện để nuôi dưỡng cháu. Mặt khác chị H khỏe mạnh, có thu nhập, bên cạnh có bố mẹ đẻ giúp đỡ chăm sóc cháu. Đối với ý kiến của bà Hà Thị Nh hiện nay cháu đang ở với bà ổn định đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết đảm bảo sự ổn định và quyền lợi cho cháu, Hội đồng xét xử xét thấy bà Nh đã cao tuổi, hiện ở 1 mình không ai phụ bà chăm sóc cháu T, mà hiện nay cháu T đang độ tuổi đi học rất cần người nuôi dưỡng cũng như dạy bảo cháu học hành vì vậy việc tiếp tục giao cháu T cho bà nuôi dưỡng là không phù hợp với quy định của pháp luật và không đảm bảo các điều kiện để nuôi dạy cháu T. Do vậy, để đảm bảo lợi ích mọi mặt của cháu nên giao cháu T cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ theo khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không có yêu cầu, mặt khác anh L đang phải chấp hành án không có điều kiện nên không đặt ra việc xem xét.

[2.4]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.5]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các điều 5, 147, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn L.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Nhật T sinh ngày 08/11/2012, hiện cháu đang ở với bà Hà Thị Nh (tại Thôn Th, xã Ph, huyện N) cho chị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp là 300.000 đồng. Được trừ vào số tiền tiền tạm ứng án phí chị Hải đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2013/0000172 ngày 04/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

4. Quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh L và bà Nh được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2019/HNGĐ-ST ngày 08/08/2019 ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:35/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về