Bản án 20/2019/HS-ST ngày 22/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 20/2019/HS-ST NGÀY 22/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Đào Văn T (Tên gọi khác: không) - Sinh ngày: 20 tháng 8 năm 1971 tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên; Nơi đăng ký hộ khẩu và nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố Na Quang 2, thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T (Không xác định được năm sinh, đã chết năm 1975) và bà Nguyễn Thị N (Sinh năm 1939, đã chết năm 2014); Vợ thứ nhất: Nguyễn Thị N - Sinh năm: 1975; Trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn B, huyện H, tỉnh Lào Cai (Đã ly hôn năm 2003); Vợ thứ hai: Nguyễn Lan H - Sinh năm: 1983, trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện H, tỉnh Lào Cai (Đã ly hôn năm 2013); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2007. Tiền sự: Không; Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án.

Tại bản án hình sự số 03/HSST ngày 25/01/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xử phạt Đào Văn T 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, buộc T phải chịu 50.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên phạt 20.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước. Ngày 30/8/2005 T được đặc xá tha tù trước thời hạn. T đã chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm nhưng chưa chấp hành hình phạt bổ sung theo quy định của bản án. Do đó Đào Văn T chưa được xóa án tích.

Tại bản án hình sự số 01/2015/HSST ngày 09/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, xử phạt Đào Văn T 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc T phải bồi thường cho anh Phạm Ngọc Thiệp số tiền 2.580.000 đồng và phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, 200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 23/3/2015, T đã chấp hành xong tiền án phí hình sự và dân sự. Ngày 16/8/2015, T chấp hành xong hình phạt tù, tuy nhiên đến nay T chưa bồi thường thiệt hại cho anh Phạm Ngọc Thiệp theo quy định của bản án. Do đó Đào Văn T chưa được xóa án tích.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, tại Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND huyện Bắc Hà về việc đưa đối tượng nghiện chất ma túy đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục LĐXH tỉnh Lào Cai đối với Đào Văn T trong thời hạn 12 tháng. Ngày 24/01/2011 T được tái hòa nhập cộng đồng.

Tại Quyết định số 373/QĐ-UBND ngày 21/6/2012 của UBND huyện Bắc Hà áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục LĐXH tỉnh Lào Cai đối với Đào Văn T trong thời hạn 18 tháng. Ngày 27/7/2013, T được tái hòa nhập cộng đồng.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/02/2019, tạm giam ngày 03/3/2019, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

-Người chứng kiến:

Anh Trần Ngọc T - Sinh năm: 1991; Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn N - Sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 28/02/2019 tại khu vực đầu cầu Phố Lu thuộc thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, Công an huyện Bảo Thắng phát hiện Đào Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 89K9-7392 dừng lại trước cửa hiệu thuốc tây có biểu hiện nghi vấn. Công an huyện Bảo Thắng tiến hành kiểm tra và T tự giác giao nộp 02 gói nhỏ đang cầm trong bàn tay trái. Bên trong 02 gói nhỏ này có chứa chất bột khô mầu trắng, vón cục, T khai là Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Công an huyện Bảo Thắng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan gồm: 01 điện thoại di động hiệu Itel, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Thanh, 01 chứng minh thư mang tên Đào Văn T và 01 mô tô Honda Lead biển kiểm soát 89K9-7392.

Quá trình điều tra, T khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 89K9-7392 từ thị trấn Bắc Hà đến nhà con gái là Đào Cẩm Vân ở xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng để trả xe mô tô này nhưng chị Vân không có nhà nên T đi xe đến xã Sơn Hà chơi. Khi đi đến tổ dân phố Phú Cường 1, thị trấn Phố Lu, T thấy người đàn ông không quen biết đứng ở lề đường và hỏi người này có ma túy bán không. Sau khi trao đổi, T đưa cho người đàn ông 300.000 đồng và người này đưa lại 02 gói nhỏ ma túy. T cầm 02 gói nhỏ ma túy ở tay trái và điều khiển xe đến khu vực xã Sơn Hà, khi thấy hiệu thuốc tây, T định vào mua kim tiêm và nước cất để sử dụng ma túy. Khi T vừa dừng xe thì bị Công an kiểm tra bắt giữ cùng tang vật có liên quan.

Tại Kết luận giám định số 75/GĐMT ngày 02/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,27 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine. Cơ quan giám định đã trích mẫu và sử dụng hết 0,07 gam Heroine, hoàn lại cơ quan trưng cầu 0,20 gam Heroine.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 24/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Đào Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng Điểm o Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2019; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 0,20 gam Heroine còn lại sau giám định; Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đào Văn T đã thừa nhận hành vi tàng trữ 0,27 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngày 28/02/2019, Đào Văn T bị Công an huyện Bảo Thắng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật của vụ án gồm 02 gói nhỏ đều chứa chất bột khô, mầu trắng, vón cục, có tổng trọng lượng là 0,27 gam Heroine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo T là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, năm 1999 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chưa được xóa án tích nhưng đến năm 2015 lại tiếp tục phạm tội, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng là tái phạm.

Hành vi phạm tội ngày 28/02/2019 của bị cáo T thuộc trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung“Tái phạm nguy hiểm”.

Khẳng định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Ma túy huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại, gây mất trật tự an ninh, xã hội. Hơn nữa bị cáo đã nhiều lần phạm tội nhưng không tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử thật nghiêm minh để răn đe phòng ngừa tội phạm.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đào Văn T, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mẹ đẻ của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba. Vì vậy cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về vật chứng của vụ án: Tổng trọng lượng Heroine thu giữ trong vụ án là 0,27 gam. Sau khi giám định, cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,07 gam Heroine nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Số Heroine còn lại sau giám định là 0,20 gam, đây là vật chứng mà Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy;

Đối với 01 xe môt tô Honda Lead biển kiểm soát 89K9-7392, quá trình điều tra xác định xe mô tô này bị cáo T mua của anh Nguyễn Văn Thanh (Trú tại: Thôn Duyên Ninh, xã Đông Ninh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) với giá 14.000.000 đồng, hai bên có làm giấy tờ mua bán nhưng T đã làm mất. Bị cáo mua xe mô tô và cho con gái Đào Cẩm Vân dùng làm phương tiện đi dậy học. Sau đó T mượn xe mô tô để đi chơi và bị bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cùng với 01 điện thoại di động hiệu Itel mầu đen đã qua sử dụng, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Đào Văn T, 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 89K9-7392. Đây là những vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo quy định, đến nay không ai có ý kiến gì về vật chứng đã nhận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản gì, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo: Về đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa thì bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo Đào Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào Điểm o Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đào Văn T 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28/02/2019.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 0,20 gam Heroine là vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định, thu giữ trong vụ án Đào Văn T ngày 28/02/2019, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Thắng bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2019.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án;


88
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HS-ST ngày 22/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:20/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Thắng - Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về