Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 03/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 20/2019/HNGĐ-ST NGÀY 03/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 03 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2019, về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 44/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng D, sinh năm 1989, địa chỉ Số 316/5, ấp C, xã K, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1986, địa chỉ ấp H, xã X, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Vào năm 2012, chị Trần Thị Hồng D và anh Nguyễn Ngọc C tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Xuân Hòa ngày 05/01/2012. Quá trình sống chung có một con chung tên là Nguyễn Nhã K, sinh ngày 21/10/2012, hiện đang sống với chị D.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do anh C không lo làm ăn, lại ham mê đá gà nên vợ chồng thường xuyên cải nhau, anh C không quan tâm tới gia đình, vợ con, nên chị D đã dẫn con về nhà cha mẹ ruột ở và sống ly thân được 06 tháng nay. Nhận thấy, vợ chồng sống chung không hạnh phúc, hôn nhân không thể tồn tại được.

Nay chị D yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc C;

- Về con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nhã K và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Theo biên bản xác minh ngày 20/3/2019, bà Nguyễn Thị Kim T, mẹ của anh Nguyễn Ngọc C, cho biết như sau: Bà có thông báo cho anh C biết việc khởi kiện xin ly hôn của chị D, anh C cũng đồng ý ly hôn; Về con chung anh C đồng ý giao cháu Nguyễn Nhã K, sinh ngày 21/10/2012 cho chị D nuôi dưỡng, nhưng không đồng ý cấp dưỡng theo yêu cầu của chị D, nếu chị D nuôi con không nổi thì giao lại cho anh C nuôi; Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn dấn đến ly hôn bà không biết.

*Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên Tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Về tố tụng:

[1] Tại phiên Tòa, bị đơn anh Nguyễn Ngọc C, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không rõ lý do, cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con, xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 71 và khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ hôn nhân:

[2] Chị Trần Thị Hồng D và anh Nguyễn Ngọc C tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn và tuân thủ quy định tại các điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

[3] Xét về tình trạng hôn nhân, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, trong thời kỳ hôn nhân, chị D và anh C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do anh C không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, thường hay cờ bạc, đá gà, dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc, cho nên đã sống ly thân 06 tháng nay. Đến thời điểm này, cả chị D và anh C cũng không có một biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hơn nữa, cả hai người cũng đồng ý ly hôn với nhau. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.

- Về con chung:

[4] Trong thời kỳ hôn nhân, chị D và anh C có 01 người con chung tên là Nguyễn Nhã K, sinh ngày 21/10/2012, hiện đang sống với chị D.

[5] Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, các khoản 1, 2 Điều 81, các điều 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Nếu không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng cũng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

[6] Xét thấy, cháu K từ nhỏ đã được người mẹ chăm sóc nuôi dưỡng tốt, người cha cũng đồng ý giao cho người mẹ nuôi dưỡng, cho nên phải giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, tránh thay đổi môi trường sống ổn định của trẻ nhỏ không cần thiết. Nếu sau này người mẹ nuôi dưỡng không tốt thì người cha có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu Nguyễn Nhã K, sinh ngày 21/10/2012 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này cho anh C, không ai được ngăn cản.

[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị D đối với anh C.

[8] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Buộc chị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

[10] Đề nghị của Kiểm sát viên về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, theo như nhận định và phân tích nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 71, khoản 1 Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc C.

2) Về con chung: Giao cho chị D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nhã K, sinh ngày 21/10/2012, đến tuổi trưởng thành; Anh C được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này, không ai được ngăn cản.

3) Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị D đối với anh C.

4) Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5) Án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc chị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0006442, ngày 14/01/2019, của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kế Sách. Như vậy, chị D đã nộp xong án phí sơ thẩm.

6) Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự không có mặt tại phiên Tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

7) Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 03/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:20/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kế Sách - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 03/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về