Bản án 20/2018/DS-ST ngày 26/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 20/2018/DS-ST NGÀY 26/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 26/11/2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2018/TLST-DS, ngày 26/6/2018, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/ST-DS, ngày 23 tháng 10 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa, số: 70/2018/-ST ngày 08/11/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A. Trụ sở: Số N phố L, phường H, Quận M, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng giám đốc; Địa chỉ: Số N phố L, phường H, Quận M, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Quang D - C/v: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội C. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn, E, huyện C, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện C, tỉnh Đăk Nông – Văng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Kiều Thị H, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện C, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện bản tự khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Trên cơ sở Giấy đề nghị vay vốn của ông Phạm Xuân T, ông T đề nghị vay vốn theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường; Ngân hàng A - Phòng giao dịch C cho hộ ông T vay số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng); khế ước số 6000006400045390 vay ngày 14/9/2013: thỏa thuận: tổng số tiền vay 8.000.000 đồng, thời hạn cho vay 54 tháng, lãi suất cho vay 0,9%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay; ngày trả nợ gốc là 14/3/2018.

Đến hạn trả nợ, Ngân hàng đến đòi nhiều lần nhưng ông T không trả được tiền gốc và lãi. Vì vậy, Ngân hàng A khởi kiện, yêu cầu TAND huyện Cư Jút giải quyết buộc vợ chồng ông Phạm Xuân T và bà Kiều Thị H trả Ngân hàng A số tiền 11.315.000 đồng (Mười một triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng), trong đó: tiền gốc 8.000.000đ, tiền lãi tính tới thời điểm xét xử hôm nay 26/11/2018 là 3.315.000 đồng. Cụ thể cách tính lãi:

+ Lãi trong hạn tính từ 14/9/2013 đến 14/3/2018 là: 54 tháng, tính với lãi suất 0,9%/tháng, cụ thể: 8.000.000đ x 54 tháng x 0,9% = 3.888.000 đồng, ông T đã đóng tiền lãi trong hạn được 853.000 đồng (ông T đóng lãi lần cuối vào ngày 14/8/2015), như vậy lãi trong hạn ông T còn nợ là 3.035.000 đồng;

+ Lãi quá hạn được tính từ 15/3/2018 đến 26/11/2018 là: 08 tháng 10 ngày, lãi quá hạn tính bằng 130% lãi suất trong hạn 0,9% là 1,17%/tháng, cụ thể: 8.000.000đ x 0,17% x 08 tháng 10 ngày = 780.000đồng, ngày 14/11/2018 ông T đã đóng lãi quá hạn được 500.000 đồng, như vậy lãi quá hạn ông T còn nợ là 280.000 đồng.

- Bị đơn ông Phạm Xuân T từ khi thụ lý đến khi xét xử đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông T, bà H vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp tài liệu, văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kiều Thị H trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2018: Bà H đồng ý cùng ông T trả cho Ngân hàng A số tiền ông T đã vay của Ngân hàng A và không có ý kiến gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng cũng như nội dung vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không chấp hành, vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2 nên HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Về hình thức tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút xét thấy đảm bảo đầy đủ và hợp pháp.

- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân A - Phòng giao dịch C khởi kiện ông Phạm Xuân T có địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện C, tỉnh Đăk Nông trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút theo quy định tại khoản 3 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35; các điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Xét theo món vay khế ước số 6000006400045390 ngày 14/9/2013được ký kết giữa ông Phạm Xuân Tvới Ngân hàng A - Phòng giao dịch C hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị lừa dối, nội dung vay số tiền 8.000.000đồng theo chương trình nước sách và vệ sinh môi trường, thời hạn trả theo biên bản thỏa thuận trả nợ ngày cuối cùng là ngày 14/3/2018, các thỏa thuận trong khế ước hoàn toàn phù hợp đúng theo quy định của pháp luật quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hợp đồng có hiệu lực pháp luật.

Xét Khế ước số 6000006400045390 ngày 14/9/2013 có thỏa thuận: tổng số tiền vay 8.000.000 đồng, thời hạn cho vay 54 tháng, lãi suất cho vay 0, 9%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay; ngày trả nợ gốc là 14/3/2018. Đến trả nợ, Ngân hàng đã làm việc nhiều lần nhưng ông T vẫn trốn tránh không trả nợ gốc và lãi. Ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi như đã thỏa thuận trong Khế ước vay đã ký kết.

Cách tính lãi của Ngân hàng A là rõ ràng, đúng theo thỏa thuận về thời điểm trả nợ và lãi suất, không vi phạm quy định của pháp luật dân sự. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hành A là có căn cứ đối với số nợ gốc 8.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày 26/11/2018 (Ngày xét xử sơ thẩm) là 3.315.000 đồng theo Khế ước 6000006400045390 ngày 14/9/2013 được ký kết giữa ông T và Ngân hàng A, HĐXX cần chấp nhận.

Để ông T có quyền được trình bày ý kiến của mình về việc vay nợ Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng: Thông báo v/v thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy ông T đã tự tước bỏ quyền được tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Mối quan hệ giữa ông Phạm Xuân T và bà Kiều Thị H là quan hệ vợ chồng. Việc ông T đứng tên giao kết vay vốn tại Ngân hàng A bà H đã có ý kiến trình bày sẽ có nghĩa vụ trả nợ cùng ông T. Đây là khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu sử dụng phục vụ đời sống chung của gia đình nên theo quy định tại Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX xét thấy: bà H có nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên có trách nhiệm liên đới cùng trả nợ đối với khoản vay này.

Từ những căn cứ nêu trên HĐXX đủ căn cứ buộc ông Phạm Xuân T và bà Kiều Thị H phải trả Ngân hàng A số tiền 11.316.000 đồng (Mười một triệu ba trăm mười sáu nghìn đồng), trong đó: gốc 8.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày 26/11/2018 (Ngày xét xử sơ thẩm) là 3.315.000 đồng.

Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 27/11/2018 theo mức lãi suất như đã thỏa thuận trong khế ước nhận nợ đối với số tiền còn nợ cho đến khi trả nợ xong.

[4]. Về án phí: Án phí dân sự có giá nghạch đối với số tiền 11.315.000 đồng là: 11.315.000đ x 5% = 566.000 đồng (Năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; các điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 429, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A;

1. Buộc ông Phạm Xuân T và bà Kiều Thị H phải trả Ngân hàng A thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng A huyện C, tỉnh Đăk Nông tổng số tiền là 11.315.000 đồng (Mười một triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng), trong đó: gốc 8.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày 26/11/2018 (Ngày xét xử sơ thẩm) là 3.315.000 đồng.

Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 27/11/2018 theo mức lãi suất như đã thỏa thuận trong khế ước nhận nợ số 6000006400045390 ngày 14/9/2013 đối với số tiền còn nợ cho đến khi trả nợ xong.

2. Về án phí: Buộc ông Phạm Xuân T và bà Kiều Thị H phải nộp 566.000 đồng (Năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2018/DS-ST ngày 26/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:20/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư Jút - Đăk Nông
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về