Bản án 20/2017/HNGĐ-ST ngày 26/07/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 20/2017/HNGĐ-ST NGÀY 26/07/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 02 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2017/TLST–HNGĐ, ngày07/8/2017,  về  “Tranh  chấp  ly  hôn”  theo  Quyết  định  đưa  vụ  án  ra  xét  xử  số 94/2017/QĐXX-ST, ngày 03/10/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Th.

Cùng trú tại: Ấp Đ, xã H, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 8 năm 2017 và các tài liệu khác có trong hồ sơ, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H (bà H) trình bày: Năm 1994 bà H và ông Nguyễn Văn T (ông Th) kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Hữu, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn bà H với ông Th sống hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2006 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Ông Th, bà H sống ly thân từ tháng 01 năm 2007 đến nay. Trong quá trình chung sống bà H và ông Th có với nhau hai con chung tên Nguyễn Thị Th, sinh năm 1996 và Nguyễn Văn Th, sinh năm 1998, các con đã trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay bà H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng giải quyết:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà H được ly hôn với ông Th.

-Về con chung: Các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

-Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

*Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diên Viện Kiểm Sát phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luât tố tụng dân sự, không tham gia tố tụng theo triệu tập của Tòa án. Tại phiên tòa sơ thâm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Nguyễn Văn Th (ông Th) hợp lệ, nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay, ông Th vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, Bà H không yêu cầu hoãn phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, từ những ý kiến, yêu cầu trên. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Văn Th.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện giải quyết ly hôn của bà H đối với ông Nguyễn Văn Th:

- Từ Sau khi thụ lý, trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã nhiều lần tống  đạt trực tiếp các văn bản tố tụng như, thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định định đưa vụ án ra xét xử cho ông Th, nhưng ông Th không trả lời thông báo thụ lý, không có mặt theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do đó Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

-Về quan hệ hôn nhân:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/8/2017, đơn yêu cầu hòa giải ngày 21/6/2017 (Bút lục số: 01, 07) và tại phiên tòa sơ thẩm bà H trình bày do ông Th thường hay uống rượu say không lo làm ăn bà H đã khuyên răn nhiều lần nhưng ông Th không sửa chữa từ đó nãy sinh nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống khiến cho cuộc sống chung của họ không hạnh phúc, ông Th và bà H đã sống ly thân hơn 10 năm nay, hiện nay bà H đã có gia đình mới và đã có con riêng với người khác. Từ những chứng cứ trên cho thấy trong quá trình chung sống với nhau bà H và ông Th phát sinh nhiều mâu thuẩn kéo dài và ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng khó có thể hàn gắn được tại phiên tòa hôm nay bà H cũng khẳng định cuộc sống chung của ông bà không có hạnh phúc, tình cảm không còn, ông, bà đã ly thân từ đầu năm 2007 cho đến nay. Từ thực trạng đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa ông Th và bà H ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ vào Điều 85, Điều 91, khoản 1 Điều 89 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

-Về con chung: Giữa bà H và ông Th có hai con chung là Nguyễn Thị Th, sinh năm 1996 và Nguyễn Văn Th, sinh năm 1998. Cả hai con chung của ông Th và bà H đều đã trưởng thành, phát triển bình thường về tinh thần và thể chất  nên về nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

-Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định bà và ông Th không có thiếu nợ ai, tài sản chung ông bà tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

-Về quyền kháng cáo bản án: căn cứ vào các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

* Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227,  khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 85, Điều 91, khoản 1 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

* Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn Th.

2. Về con chung: Các con chung của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn Th là Nguyễn Thị Th sinh năm 1996 và Nguyễn Văn Th, sinh năm 1998 đã trưởng thành phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, có cuộc sống riêng độc lập nên vấn đề nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của cha mẹ đối với con Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H xác định không có thiếu nợ ai, tự thỏa thuận với nhau về tài sản chung không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

4.  Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008278 ngày 04 tháng 8 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Ông Nguyễn Văn Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hôm nay thì thời gian kháng cáo được tính từ ngày tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2017/HNGĐ-ST ngày 26/07/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:20/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về