Bản án 194/2017/HSST ngày 25/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 194/2017/HSST NGÀY 25/08/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Đ mở phiên tòa lưu động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 202/2017/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lù Văn O; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1967 tại Đ;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;

Nghề nghiệp: Làm ruộng;  Dân tộc: Thái; Trình độ học vấn: 2/10 phổ thông; Tiền án, tiền sự: Không;

Con ông: Lù Văn C và con bà: Lù Thị E (đều đã chết); Vợ: Tòng Thị B (đã chết); Con: Có 02 con;

Bị tạm giữ từ ngày 29/5/2017 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Lù Văn O bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 29/5/2017, Lù Văn O đi bộ từ nhà ở bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên xuống bản X, xã T, huyện Đ với mục đích tìm mua Heroin để sử dụng. Đến bản X, O gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi, không rõ lai lịch, O hỏi mua 200.000 đồng Heroin, người đàn ông đó nhận tiền rồi đưa cho O các cục Heroin không được đóng gói, O cầm số Heroin và cho vào một lọ nhựa nhặt được ở ven đường, O cất lọ nhựa vào túi quần phía sau đang mặc rồi đi về nhà. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi O đang ở nhà thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên người O 01 lọ nhựa màu xanh, hình trụ, nắp màu vàng, bên trong chứa 0,29 gam Heroin.

Tại bản Cáo trạng số 135/QĐ-VKS-HS ngày 08/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố Lù Văn O về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 7; Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: Xử phạt bị cáo Lù Văn O từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Căn cứ Điểm a, đ Khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,22 gam Heroin là vật chứng còn lại sau khi giám định và 01 lọ nhựa màu xanh, hình trụ, nắp màu vàng.

- Căn cứ Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Lù Văn O khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã truy tố và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với mức thấp nhất.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà.

Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 29/5/2017 tại nhà của mình ở bản C, xã T, huyện Đ, Lù Văn O đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 0,29 gam Heroin được đựng trong 01 lọ nhựa màu xanh, hình trụ, nắp màu vàng với mục đích để sử dụng. Heroin nằm trong danh mục các chất ma túy, có số thứ tự 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ.

Tại phiên toà, bị cáo Lù Văn O đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ phép chất ma túy với mục đích để sử dụng đúng như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đ lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 29/5/2017; Biên bản niêm phong vật chứng lập hồi 16 giờ 50 phút ngày 29/5/2017; Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng lấy mẫu giám định ngày 29/5/2017; Kết luận giám định số 492/GĐ-PC54 ngày 20/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi tàng trữ trái phép chất Heroin của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý và sử dụng các chất ma tuý của Nhà nước.

Lù Văn O là người đã thành niên, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, bởi bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng bị Nhà nước nghiêm cấm, nhận thức được tác hại của ma túy đến sức khỏe và mọi mặt của đời sống xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Lù Văn O có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố Lù Văn O về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung tại Luật số 12/2017/QH14) và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc áp dụng những quy định có lợi cho người phạm tội, thì hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lù Văn O được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên được áp dụng.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lù Văn O học hết lớp 2/10 thông thì bỏ học ở nhà và xây dựng gia đình; sử dụng ma túy từ năm 1988 đến nay; ngày 25/9/2001 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành hình phạt đến ngày 28/4/2005 được đặc xá ra tù; ngày 13/02/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành hình phạt tù đến ngày 28/7/2010 thì ra trại; tính đến ngày phạm tội lần này, cả hai bản án trên đều đã được xóa án tích; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy Lù Văn O phạm tội nghiêm trọng, nhân thân xấu, hình phạt của các bản án trước đây không có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, vì vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung, tội phạm về ma túy nói riêng.

Đối với tội phạm về ma túy, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghiện ma túy, thu nhập từ nghề sản xuất nông nghiệp trồng lúa thấp, không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lù Văn O khai mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi ở bản X, xã T, huyện Đ nhưng không biết họ tên và địa chỉ, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được người này nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xử lý.

Vật chứng thu giữ của bị cáo là 0,29 gam Heroin, sau khi giám định còn lại 0,22 gam Heroin là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 lọ nhựa màu xanh, có nắp đậy màu vàng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lù Văn O phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009); Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14; Khoản 3 Điều 7 và Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 của Quốc hội khóa 14).

Xử phạt bị cáo Lù Văn O 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (29/5/2017).

3. Áp dụng Điểm a, đ Khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,22 gam Heroin và 01 lọ nhựa hình trụ màu xanh, có nắp đậy màu vàng (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2017 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

4. Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Lù Văn O phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/8/2017)


48
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về