Bản án 19/2020/HS-ST ngày 31/12/2020 về tội hiếp dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 19/2020/HS-ST NGÀY 31/12/2020 VỀ TỘI HIẾP DÂM

Ngày 31 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Nghiêm Văn Q (tên gọi khác: Nghiêm Văn T), sinh ngày 25 tháng 3 năm 1994 tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 6/12; Con ông: Nghiêm Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết); vợ: Vũ Thị L (không đăng ký kết hôn) và 01 con; tiền án: 01 tiền án ngày 27/9/2013 Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù giam về tội đánh bạc; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 05/8/2010 Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đình Lập từ ngày 13/9/2020 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nghiêm Văn Q: Ông Hoàng Văn L – Luật sư thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nghiêm Văn Q, trú tại thôn B, xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Do ở cùng thôn nên Nghiêm Văn Q biết bà Nguyễn Thị T sống một mình. Khoảng 02 giờ ngày 18/8/2020, Nghiêm Văn Q nảy sinh ý định đến nhà bà Nguyễn Thị T để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với bà Nguyễn Thị T. Nghiêm Văn Q đi bộ đến nhà bà Nguyễn Thị T, lúc này nhà bà Nguyễn Thị T đang đóng cửa và tắt đèn. Nghiêm Văn Q mở cổng đi vào phía cửa nhà bà Nguyễn Thị T dùng tay đẩy hai cánh cửa cho lệch nhau để có khe hở, sau đó Nghiêm Văn Q dùng ngón trỏ và ngón giữa trái đẩy then cài từ trái sang phải rồi mở cánh cửa bên tay phải đi vào trong nhà và chốt cửa lại. Khi vào trong nhà Nghiêm Văn Q nghe thấy tiếng ngáy ở phía giường bên trái cửa ra vào, xác định bà Nguyễn Thị T đang ngủ say trên giường, Nghiêm Văn Q dùng điện thoại soi xung quanh thì thấy đầu giường bà Nguyễn Thị T đang ngủ có 01 chiếc khăn mặt, Nghiêm Văn Q cầm chiếc khăn mặt xé làm đôi với mục đích để trói chân, tay bà Nguyễn Thị T. Khi Nghiêm Văn Q xé khăn mặt thì phát ra tiếng động, nghe thấy tiếng động bà Nguyễn Thị T tỉnh giấc ngồi dậy lấy đèn pin để ở đầu giường soi vào người Nghiêm Văn Q, Nghiêm Văn Q liền vứt khăn mặt tại đầu giường và lao vào bà Nguyễn Thị T, Nghiêm Văn Q dùng hai tay đẩy bà Nguyễn Thị T nằm xuống giường, đồng thời trèo lên giường đè bà Nguyễn Thị T nằm xuống giường, tay trái của Nghiêm Văn Q luồn qua cổ bà Nguyễn Thị T, đầu bà Nguyễn Thị T gác lên bắp tay trái của Nghiêm Văn Q, bàn tay trái của Nghiêm Văn Q vít cổ, bịt mồm bà Nguyễn Thị T. Sau đó Nghiêm Văn Q dùng tay phải kéo áo và thò tay vào trong áo sờ ngực bên trái bà Nguyễn Thị T, lúc này bà Nguyễn Thị T mặc áo phông và quần cạp chun, khi bị sờ ngực bà Nguyễn Thị T dùng tay đẩy tay Nghiêm Văn Q ra, Nghiêm Văn Q tiếp tục dùng tay phải cầm vào cạp chun quần bà Nguyễn Thị T kéo cả quần dài và quần lót xuống đến đùi bà Nguyễn Thị T nhưng bà Nguyễn Thị T dùng chân phải đạp vào Nghiêm Văn Q và kéo quần lên. Sau đó bà Nguyễn Thị T bước xuống giường đi được khoảng 02 bước thì lại bị Nghiêm Văn Q tiếp tục dùng tay kéo lại làm bà ngã xuống nền nhà, Nghiêm Văn Q lại dùng tay kéo quần bà Nguyễn Thị T xuống và vật lộn với bà Nguyễn Thị T, khi bà Nguyễn Thị T ngã ngửa, Nghiêm Văn Q ngồi lên hai đùi của bà Nguyễn Thị T dùng tay bịt miệng và bóp cổ nhưng do bà Nguyễn Thị T chống cự quyết liệt nên Nghiêm Văn Q buông tay ra, bà Nguyễn Thị T ngồi dậy và chạy ra mở cửa đồng thời gọi chị D hàng xóm kêu cứu. Thấy vậy Nghiêm Văn Q nói với bà Nguyễn Thị T là “im mồm không được manh động”, nghe thấy Nghiêm Văn Q nói vậy bà Nguyễn Thị T phát hiện giọng nói và nói thằng T (tức Nghiêm Văn Q) mày định làm gì tao. Thấy bà Nguyễn Thị T gọi chị D hàng xóm, Nghiêm Văn Q bỏ về nhà mình.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục: số 15/2020/PYTD ngày 26/8/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận: Bị hại Nguyễn Thị T tinh thần tỉnh táo, tiếp xúc tốt, toàn thân không có bầm tím, xây xước gì. Màng trinh có nhiều vết rách cũ.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-ĐL ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nghiêm Văn Q về tội hiếp dâm, theo quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nghiêm Văn Q phạm tội hiếp dâm.

- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 141; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nghiêm Văn Q từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01(một) mảnh vải màu trắng có diện 10cm x 85cm;

01(một) mảnh vải màu trắng có diện 20cm x 85cm.

- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị hại bà Nguyễn Thị T trình bày: Sự việc xảy ra đúng như bị cáo trình bày. Bà đề nghị xét xử bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra. Bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm đối với bà.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, tuy nhiên bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bố mẹ đã chết nên bị cáo thiếu sự giáo dục của bố mẹ. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 3 năm tù.

Trong phần tranh luận bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Khoảng 02 giờ ngày 18/8/2020 tại nhà bà Nguyễn Thị T, Nghiêm Văn Q đã có hành vi dùng vũ lực nhằm mục đích giao cấu với bà Nguyễn Thị T. Nhưng do bà Nguyễn Thị T chống trả quyết liệt nên bị cáo không thực hiện được hành vi của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nghiêm Văn Q phạm tội "Hiếp dâm" tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 141 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với bị cáo Nghiêm Văn Q về tội "Hiếp dâm" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo gây ra phải được xử lý trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Để có mức án phù hợp ngoài việc xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã được pháp luật giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 27/9/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù giam về tội đánh bạc. Qua xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đình Lập, bị cáo chưa thi hành bản án này về phần hình phạt bổ sung và tiền án phí. Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: 01(một) mảnh vải màu trắng có diện 10cm x 85cm;

01(một) mảnh vải màu trắng có diện 20cm x 85cm liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn về tội danh, mức hình phạt và các nội dung khác của vụ án là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Xét đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[13] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, Điều 141; điểm a, khoản 1, Điều 47; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nghiêm Văn Q (tên gọi khác: Nghiêm Văn T) phạm tội Hiếp dâm.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nghiêm Văn Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 13/9/2020.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) mảnh vải màu trắng có diện 10cm x 85cm; 01(một) mảnh vải màu trắng có diện 20cm x 85cm.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25 tháng 11 năm 2020)

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nghiêm Văn Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2020/HS-ST ngày 31/12/2020 về tội hiếp dâm

Số hiệu:19/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đình Lập - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về