Bản án 37/2019/HSST ngày 16/05/2019 về tội hiếp dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 37/2019/HSST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI HIẾP DÂM

Ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2019/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2019/HSST-QĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

HOÀNG HUỲNH Đ, sinh năm 1992 tại Quảng Bình; Nơi cư trú: Đội 3, xóm Rẫy, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Hoàng Văn Đ (chết) và bà Dương Thị X; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: bị cáo chưa lần nào bị xử lý hành chính hoặc xét xử về hành vi vi phạm pháp luật; bị tạm giữ từ ngày 13/11/2018 đến ngày 21/11/2018 được tại ngoại, ngày 11/12/2018 bị bắt tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Quách Huệ Th, sinh ngày 17/6/2001

Người đại diện hợp pháp của Quách Huệ Th: Ông Quách Việt A1, sinh năm 1958; bà Trương Ngọc Đ , sinh năm 1970; Cùng địa chỉ: ấp 7, xã L, huyện L1, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Việt A, bà Đ: Quách Lộc Th, sinh năm 1999; Địa chỉ: ấp 7, xã L, huyện L1, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Huỳnh Đ thuê phòng số 05 nhà trọ “Nhật Thi” (nhà trọ) tại tổ 1, ấp 8, xã M, huyện Ch của bà Vũ Thị Nhật T làm chủ để sống một mình và đi làm công nhân tại Khu công nghiệp Minh Hưng III. Trong thời gian thuê phòng trọ, Đ biết chị Quách Thị Huệ Th (tên thường gọi là Bé), sinh ngày 17 tháng 6 năm 2001 bị bệnh tâm thần nên không thể giao tiếp, nói lớn và rõ nghĩa như người bình thường và đang sống cùng với cha, mẹ tại phòng trọ số 01 nhà trọ. Trong khoảng thời gian sống tại nhà trọ, Đ đã 02 lần thực hiện giao cấu với chị Th, cụ thể như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 12 tháng 11 năm 2017, Đ đi bộ từ phòng trọ ra tiệm tạp hóa mua đồ dùng cá nhân. Khi đi ngang qua phòng trọ số 01, Đ thấy chị Th đứng trước cửa phòng nên bảo chị Th đi theo Đ. Sau khi mua xong, Đ thấy chị Th vừa đi đến, Đ nảy sinh ý định quan hệ tình dục với chị Th nên ra hiệu (lắc đầu) cho chị Th đi theo Đ. Đ bật đèn trên điện thoại di động để soi đường đi trước, chị Th đi theo sau vào khu đất trống có nhiều bụi cây cách tiệm tạp hóa của anh Lợi khoảng 25m. Tại đây, chị Th đứng dựa lưng vào vách tường, Đ đứng đối diện ôm hôn chị Th nhưng chị Th lắc đầu phản ứng không đồng ý. Đ kéo áo thun và áo ngực của chị Th lên và dùng miệng hôn, dùng tay bóp vú rồi tuột quần lửng, quần lót của chị Th xuống đầu gối, dùng ngón tay đưa vào âm hộ chị Th khoảng 01 phút. Sau đó, Đ tự tuột quần Jeans dài, quần lót của Đ đang mặc ra xuống, Đ hạ thấp người xuống, đưa dương vật đã cương cứng vào âm hộ chị Th để giao cấu nhưng không đưa vào trong được do chị Th đứng khép 02 chân lại. Đ cọ sát dương vật vào âm hộ chị Th để giao cấu. Khoảng 01 phút sau thì Đ lấy dương vật ra và xuất tinh trùng ra ngoài. Lúc này, gia đình của chị Th đi tìm và gọi chị Th. Nghe tiếng người gọi sợ bị phát hiện, Đ kéo quần lên và bảo chị Th chạy đi. Đ bỏ chạy qua lô cao su, ra đường Quốc lộ 13 trốn, còn chị Th hoảng sợ đi ra đứng tại lô cao su. Gia đình chị Th phát hiện chị Th đang đứng run rẩy một mình tại lô cao su, trên quần, áo của chị Th đang mặc dính nhiều máu. Biết được cháu Th bị người khác xâm hại tình dục nên bà Điệp nhờ người dân trình báo sự việc cho Công an xã M, huyện Ch.

Qua truy xét, ngày 13 tháng 11 năm 2017, Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành thực hiện bắt khẩn cấp (nay là biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp) và ra Quyết định tạm giữ đối với Hoàng Huỳnh Đ về hành vi xâm hại tình dục đối với chị Quách Thị Huệ Th.

Ngoài lần thực hiện hành vi như nêu trên, Đ còn khai nhận trước khoảng 07 ngày từ ngày 12 tháng 11 năm 2017, Đ còn 01 lần thực hiện quan hệ tình dục với chị Th, cụ thể như sau: Khoảng 19 giờ, Đ đi bộ đến cửa hàng tạp hóa của anh Lợi mua 01 chai nước suối và thấy chị Th đang đứng gần phòng số 01. Sau đó, Đ cầm chai nước quay lại hỏi chị Th có uống nước không, chị Th lắc đầu (nghĩa là không uống), Đ hỏi tiếp: “có người yêu chưa?”, chị Th tiếp tục lắc đầu, Đ nói: “yêu anh nha”, chị Th gật đầu (nghĩa là đồng ý yêu Đ). Đ dùng điện thoại di động để soi đường đi trước, chị Th đi theo sau đến khu đất trống có nhiều bụi cỏ, lùm cây cạnh dãy nhà trọ của ông Lợi để quan hệ tình dục với chị Th. Khi đến nơi có bóng tối thì Đ dừng lại, chị Th đứng dựa lưng vào bờ tường. Đ đứng đối diện ôm hôn, vén áo thun, kéo áo ngực chị Th lên, dùng tay sờ 02 vú. Đ tiếp tục cởi quần chị Th xuống đến đầu gối, Đ tự tuột quần của Đ xuống đưa dương vật đã cương cứng vào trong âm hộ chị Th nhưng không được do chị Th đang đứng nên 02 chân khép lại. Đ hạ thấp người để dương vật cọ sát bên ngoài âm hộ để thực hiện hành vi giao cấu. Khoảng 03 phút sau, Đ lấy dương vật ra rồi xuất tinh trùng ra bên ngoài.

Tại kết luận giám định pháp y về tình dục số: 303/2017/TD, ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y tỉnh Bình Dương xác định: Quách Thị Huệ Th bị màng trinh giãn đường kính 1,2cm, có vết rách ở vị trí 11 giờ sâu đến chân trinh, mép rách còn sưng bầm tím.

Tại kết luận giám định số: 3884/C54B, ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Phân Viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Trên các mẫu vật số 1, số 2 và số 3 gửi giám định có dính máu người. Phân tích AND từ các mẫu máu này cho cùng một kiểu gen hoàn chỉnh của một nữ giới và trùng vơi kiểu gen của Quách Thị Huệ Th. Mẫu vật số 4 gửi giám định là lông tóc người. Không phân tích được kiểu gen hoàn chỉnh từ mẫu lông tóc này do mẫu kém nên không truy nguyên được cá thể. Lưu các kiểu gen trên tại Phân Viện Khoa học Hình sự thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an”.

Qua làm việc với cha, mẹ chị Th xác định: chị Th bệnh tim, chậm phát triển thể chất (khó phát âm, nói ngọng, nói chậm và khó tiếp xúc như người bình thường).

Tại giấy chứng nhận sức khỏe số: 3468/KSK ngày 08 tháng 5 năm 2007 của Sở Y tế tỉnh Cà Mau xác định: Quách Thị Huệ Th bị bệnh tim bẩm sinh, chậm phát triểm tâm thần.

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số: 325/KL-VPYTW, ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa xác định chị Quách Thị Huệ Th như sau:

Về y học: Trước, trong, sau khi bị hại và hiện nay: đương sự bị chậm phát triển tâm thần mức độ trung bình có tật chứng về hành vi tác phong đáng kể cần được theo dõi và đều trị.

Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm bị hại và hiện nay: đương sự mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

Về vật chứng vụ án: 01 áo sơ mi nam sọc ca rô, 01 quần jeans nam, 01 quần lót nam thu giữ của Hoàng Huỳnh Đ có dính vết màu nâu đỏ, 01 áo thun ngắn tay màu cam đỏ, 01 quần sọc màu xám đen, 01 quần lót màu hồng và 01 áo ngực màu trắng thu giữ của Quách Thị Huệ Th có dính vết màu nâu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu Nokia vỏ màu đen, model TA-1010, 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen-tím, biển kiểm soát 54P3-1978, 01 đôi dép màu hồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình Quách Thị Huệ Th số tiền 40.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 39/Ctr-VKS ngày 01/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Hoàng Huỳnh Đ về tội “Hiếp dâm” theo đoạn 2 khoản 4 và điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Bị cáo phạm tội lần đầu; Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Hiếp dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đoạn 2 khoản 4 và điểm d khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố, bị cáo đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong tháng 11 năm 2017 tại tổ 1, ấp 8, xã M, huyện Ch, tỉnh Bình Phước, Hoàng Huỳnh Đlợi dụng tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người bị hại nên đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn đối với người bị hại Quách Thị Huệ Th. Do đó, hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm”. Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “ phạm tội nhiều lần”. Do người bị hại là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo cần căn cứ theo đoạn 2 khoản 4 Điều 111 và điểm d khoản 2 Điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và thực hiện các quy định có lợi cho bị cáo theo khoản 3 Điều 7 của Bộ luật này nên áp dụng đoạn 2 khoản 4 và điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Hiếp dâm” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu. Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Gia đình người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị trong luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 áo sơ mi nam sọc ca rô, 01 quần jeans nam, 01 quần lót nam thu giữ của Hoàng Huỳnh Đ có dính vết màu nâu đỏ, 01 áo thun ngắn tay màu cam đỏ, 01 quần sọc màu xám đen, 01 quần lót màu hồng và 01 áo ngực màu trắng thu giữ của Quách Thị Huệ Th có dính vết màu nâu đỏ; 01 đôi dép màu hồng. Đây là những vật dụng, mẫu vật của bị cáo và người bị hại, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen-tím, biển kiểm soát 54P3-1978 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia vỏ màu đen, model TA-1010 của bị cáo là công cụ để hổ trợ trong việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[6] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ đoạn 2 khoản 4, điểm d khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50; 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Huỳnh Đ phạm tội “Hiếp dâm”.

2. Xử phạt bị cáo Hoàng Huỳnh Đ 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/12/2018 được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/11/2017 đến 21/11/2017.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi nam sọc ca rô, 01 quần jeans nam, 01 quần lót nam thu giữ của Hoàng Huỳnh Đ có dính vết màu nâu đỏ, 01 áo thun ngắn tay màu cam đỏ, 01 quần sọc màu xám đen, 01 quần lót màu hồng và 01 áo ngực màu trắng thu giữ của Quách Thị Huệ Th có dính vết màu nâu đỏ; 01 đôi dép màu hồng.

Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen-tím, biển kiểm soát 54P3-1978, số máy 1S94-003104, số khung 9407Y-003104.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia vỏ màu đen, model TA-1010 4.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


389
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về