Bản án 19/2019/HNGĐ-ST ngày 14/03/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 19/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/03/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 14 tháng 3 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 400/2018/TLST-HNGĐ, ngày 5 tháng 10 năm 2018,về việc tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/1/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19/2/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh năm 1992. Có mặt.

Nơi cư trú: Hẻm số 387 đường THĐ, khu phố 3, phường BH, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Nguyễn Thiện K, sinh năm 1988. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ 6, thôn 2, xã SN, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/9/2018, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc Tr trình bày: Chị Nguyễn Thị Ngọc Tr và anh Nguyễn Thiện K tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Bình Hưng, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình cha, mẹ chị Tr tại thành phố Phan Thiết được 2 năm, thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân (theo chị Tr), thì do anh K không chịu lo làm ăn mà ăn chơi, phá phách, nhậu nhẹt, tụ tập bạn bè; mỗi khi chị Tr nói chuyện, thì anh K đánh đập chị Tr. Hiện vợ chồng đã sống ly thân 2 năm nay. Trong thời gian sống ly thân anh K có tìm gặp chị Tr hòa giải, nhưng chị Tr không đồng ý trở lại chung sống, vì chị Tr sợ anh K đánh đập. Nay chị Tr cương quyết ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị Tr và anh K có một con chung: Nguyễn Bảo Kh, sinh ngày 13/8/2012, hiện đang sống với chị Tr, cháu Kh đang bị bệnh ung thư. Chị Tr yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng, vì việc điều trị cho cháu Kh được gia đình chị Tr hỗ trợ và được hưởng bảo hiểm 80%, nên tốn kém không nhiều. Chị Tr và anh K không có tài sản chung.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án thông báo các đương sự đến tham gia hòa giải, nhưng anh K không tham gia, nên không có ý kiến của anh K và Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Qua xác minh, Tòa án xác định được hiện anh K có hộ khẩu tại tổ 6, thôn 2, xã Sùng Nhơn, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Chị Tr và anh K sau khi kết hôn chủ yếu sống tại Phan Thiết. Vợ chồng có một con chung được 6 tuổi, đã sống ly thân hơn 01 năm nay.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật đang tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định. Thư ký tuân thủ đúng pháp luật.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Qua tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng: Hôn nhân giữa chị Tr và anh K là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, đã sống ly thân nhau. Vợ chồng không còn yêu thương nhau, chị Tr cương quyết ly hôn, nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tr. Về con chung là cháu Kh, sinh năm 2012, hiện do chị Tr nuôi, thấy rằng chị Tr có điều nuôi con hơn so với anh K, nên giao con cho chị Tr nuôi là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung, yêu cầu tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

[2] Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tham gia phiên tòa hợp lệ đên lần thứ hai, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, nên xét xử vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa Nguyễn Thị Ngọc Tr và Nguyễn Thiện K là hôn nhân hợp pháp, vì có đăng ký kết hôn đúng quy định, nên được pháp luật bảo vệ. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa anh chị không còn hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng không còn tình cảm, đã sống ly thân 2 năm nay, bản thân chị Tr cương quyết ly hôn. Qua kết quả xác minh, thấy rằng vợ chồng không còn chung sống hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Chị Tr và anh K có 01 người con chung tên: Nguyễn Bảo Kh, sinh ngày 13/8/2012, hiện sống với chị Tr. Chị Tr yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Sau khi xem xét về độ tuổi, sức khỏe, thấy cần giao cháu con cho chị Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con, không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong bản án này.

[6] Về án phí:Chị Nguyễn Thị Ngọc Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn,theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Nguyễn Thị Ngọc Tr ly hôn anh Nguyễn Thiện K.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc Tr được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Bảo Kh, sinh ngày 13/8/2012. Nguyễn Thiện K có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3.Về án phí: Nguyễn Thị Ngọc Tr phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phíđã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án, số 0018808 ngày 5/10/2018. Chị Tr đã nộp đủ án phí.

4.Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/3/2019); bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7avà 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2019/HNGĐ-ST ngày 14/03/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:19/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Linh - Bình Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 14/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về