Bản án 18/2020/HSST ngày 18/05/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 18/2020/HSST NGÀY 18/05/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 18 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2020/HSST, ngày 24 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị G, sinh năm 1970; Tại Bình Định; Nơi đăng ký NKTT và trú tại: thôn ĐC, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm A (đã chết); Con bà: Lê Thị L, sinh năm 1940; Chồng bị cáo: Lê Văn L, sinh năm 1970; Bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2002; Tiền sự: không; Tiền án: 01 tiền án về tội đánh bạc, ngày 13/3/2015 bị TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999 tại bản án số 09/2015/HSST, bị cáo chưa được xóa án tích; Về nhân thân: Ngày 10/9/2008 bị TAND tỉnh Đắk Nông xử phạt 5 tháng 17 ngày tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999 tại bản án số 85/2008/HSST, bị cáo đã được xóa án tích; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ khi khởi tố. (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đinh Thị N, sinh năm 1962; Trú tại: thôn ĐL, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Nông (Có mặt)

2. Bà Trần Thị N, sinh năm 1956; Trú tại: thôn ĐL, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Nông (Có mặt)

3. Bà Trương Thị B, sinh năm 1958; Trú tại: thôn ĐL, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Nông (Có mặt)

4. Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1956; Trú tại: tổ 1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Nông (Có mặt)

 - Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972; Trú tại: tổ 1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Nông (Vắng mặt)

NHẬN THẤY

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Thị G, sinh năm 1970, trú tại thôn ĐC, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Nông là đối tượng đã có tiền án về tội đánh bạc. Vào khoảng 13h00’ ngày 19/12/2019, Phạm Thị G, Trần Thị N, Trương Thị B, đến nhà bà Đinh Thị N chơi thì Đinh Thị N rủ chơi bài tiến lên được thua bằng tiền thì được mọi người đồng ý. Đinh Thị N đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ rồi sau đó trải chiếu ở phòng bếp để mọi người cùng chơi, Phạm Thị G, Đinh Thị N, Trương Thị B và Trần Thị N ngồi theo thứ tự thành vòng tròn để đánh bạc với hình thức bài tiến lên được thua bằng tiền, cụ thể: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá, được chia thành các mức theo thứ tự tăng dần là 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A, 2 (heo), mỗi mức lại chia thành 4 chất theo thứ tự tăng dần là Bích, Chuồn, Rô, Cơ để đánh bạc. Một con bạc đảo bài và chia đều cho 4 con bạc, mỗi con bạc 13 lá bài. Các con bạc tự sắp xếp bộ bài của mình thành các nhóm, gồm: Lẻ: 01 (một) lá bài; Đôi: 02 (hai) lá bài cùng mức; Ba cây: 03 (ba) lá bài cùng mức; Sảnh: từ 03 lá bài trở lên (không có lá bài 2 (heo) có mức liên tục với nhau; Tứ quý: 04 (bốn) lá bài cùng mức; Đôi thông: từ 03 (ba) đôi trở lên (không có đôi 2 (heo) có mức liên tục với nhau. Con bạc nào giữ lá bài 3 Bích đi nhóm bài có lá 3 bích trước, con bạc kế tiếp (theo chiều chia bài) đánh nhóm bài tương tự nhưng có độ lớn hơn hoặc không đánh bài, nhường lượt cho con bài kế tiếp (con bạc đã nhường lượt đánh không được tiếp tục đánh bài khi đến lượt, trừ trường hợp chặn heo), cứ như vậy cho đến khi không có con bạc nào đánh bài nữa thì con bạc đánh bài cuối cùng được tùy ý đánh ra một nhóm bài bất kỳ và ván bài lại tiếp tục với quy tắc như trên. Cứ như vậy cho đến khi hết bài, con bạc nào đánh hết bài đầu tiên về nhất, tiếp tục là về nhì, về ba, về tư (về bét). Con bạc về nhất thắng 10.000 đồng, về nhì thắng 5.000 đồng, con bạc về thứ ba thua 5.000 đồng, con bạc về bét thua 10.000 đồng.

Ngoài ra các con bạc còn quy định về chặn heo, ăn trắng và nộp tiền xâu, cụ thể: Nếu con bạc đi trước đánh lẻ lá bài 2 (heo) thì các con bạc tiếp theo có thể sử dụng nhóm tứ quý để chặn lá bài 2 (heo) đó. Nhóm tứ quý trên cũng có thể bị chặn bởi một nhóm tứ quý khác lớn hơn. Con bạc cuối cùng bị chặn thua số tiền tương ứng là 5.000 đồng/1 lá bài 2 (heo) hoặc nhóm tứ quý, con bạc cuối cùng chặn thắng số tiền tương ứng là 5.000 đồng/ 1 lá bài 2 (heo) hoặc nhóm tứ quý. Đối với ăn trắng, sau khi chia bài, con bạc nào có bộ bài có bốn lá bài 2 (heo) hoặc có 6 nhóm đôi thì ăn trắng, thắng 10.000 đồng của mỗi con bạc thua, các con bạc thua thì mất 10.000 đồng cho con bạc ăn trắng. Nếu con bạc ăn trắng trong trường hợp có 4 lá bài 2 (heo) thì nộp tiền xâu 10.000 đồng cho Đinh Thị N, nếu ăn trắng trong trường hợp có 6 nhóm đôi thì nộp tiền xâu 5.000 đồng cho Đinh Thị N.

Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, Đỗ Thị P đến chơi thì thế chỗ đánh bạc của Đinh Thị N, Đinh Thị N ngồi sau thu tiền xâu. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã Đắk Lao phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ trên chiếu bạc 310.000 đồng, 55.000 đồng tiền xâu, 02 bộ bài tú lơ khơ (104 lá).

Tại bản cáo trạng số: 16/CTr-VKS, ngày 22/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Phạm Thị G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, Tuyên phạt bị cáo Phạm Thị G án từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam về tội “Đánh bạc”

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Căn cứ Điều 106 của BLTTHS:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 365.000 đồng đã dùng vào việc đánh bạc.

Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ (104 lá); 01 chiếu cói đã qua sử dụng kích thước 02m x 01m là công cụ dùng vào việc đánh bạc.

Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì. Khi được trình bày lời sau cùng bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa lỗi lầm sớm trở thành người công dân tốt, sống có ích.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị G đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với người liên quan và các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/12/2019, tại nhà bà Đinh Thị N thôn ĐL, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Lực lượng Công an xã Đắk Lao huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông bắt quả tang Phạm Thị G, Đinh Thị N, Trần Thị N, Trần Thị Ba, Đỗ Thị P đã thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức đánh bài tiến lên được thua bằng tiền với số tiền luân chuyển trên chiếu bạc là 365.000 đồng. Hành vi này của Phạm Thị G đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phạm Thị G đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS.

Khoản 1 Điều 321 BLHS quy định.

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 triệu đồng đến dưới 50.000.000 triệu đồng hoặc dưới 5.000.000 triệu đồng, nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại  Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 triệu đồng đến 100.000.000 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân, bị cáo biết rằng Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm việc đánh bạc, gá bạc, cá độ trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật nhưng ngày 19/12/2019, bị cáo Phạm Thị G và các đối tượng Đinh Thị N, Trần Thị N, Trần Thị Ba, Đỗ Thị P đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức tiến lên, được thua bằng tiền với số tiền luân chuyển trên chiếu bạc là 365.000 đồng (Ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Ngày 14/8/2008 thực hiện hành vi đánh bạc bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 05 tháng 17 ngày tù giam về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 85/2008/HSST ngày 10/9/2008. Thời hạn chấp hành án bằng thời gian bị tạm giam (bị cáo đã chấp hành xong và đã được xóa án tích); Ngày 11/5/2014, thực hiện hành vi đánh bạc bị TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt bằng hình thức phạt tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 09/2015/HSST, ngày 13/03/2015 (Bị cáo chưa chấp hành xong bản án); Ngày 19/12/2019 bị cáo lại phạm tội mặc dù chưa được xóa án tích nhưng theo quy định thì trường hợp tái phạm của bị cáo là tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tại phiên tòa bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra. Số tiền mà bị cáo dùng để đánh bạc là 50.000 đồng là số tiền không lớn. Bên cạnh đó nhận thức về mặt pháp luật của bị cáo còn giải đơn. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS cho bị cáo là phù hợp.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã hai lần bị kết án về hành vi “Đánh bạc”.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội; có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47của BLHS; Căn cứ Điều 106 của BLTTHS:

- Đối với số tiền 365.000 đồng mà bị cáo và các đối tượng có liên quan đã dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng (104 lá); 01 chiếu cói đã qua sử dụng kích thước 02m x 01m mà bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

- Đối với Trần Thị N, Trương Thị B, Đỗ Thị P, Đinh Thị N cùng tham gia đánh bạc nhưng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Công an huyện Đắk Mil đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp cần chấp nhận.

- Đối với hành vi thu tiền xâu của Đinh Thị N chưa đủ truy cứu về tội “Gá bạc” quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã chuyển hồ sơ để Ủy ban nhân dân huyện Đắk Mil xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Đinh Thị N là phù hợp.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị G phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị G 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Căn cứ Điều 106 của BLTTHS:

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 365.000 đồng mà bị cáo và các đối tượng có liên quan đã dùng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng (104 lá); 01 chiếu cói đã qua sử dụng kích thước 02m x 01m mà bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2020 giữa Cơ quan CSĐT công an huyện Đắk Mil và Chi cục thi hành án dân sự huyện M).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Phạm Thị G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2020/HSST ngày 18/05/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:18/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Mil - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về