Bản án 18/2017/HSST ngày 02/06/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 18/2017/HSST NGÀY 02/06/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Trong ngày 02 tháng 6 năm 2017 tại Toà án nhân dân huyện C mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2017/HSST ngày 17 tháng 3 năm 2017 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Cao Minh Đ - Sinh năm 1960

- Tên gọi khác: Không.

- Nơi ĐKNKTT: ấp Trần Độ, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Chổ ở hiện nay: ấp Trần Độ, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Ngheà nghieäp: Giáo viên;  Trình độ học vấn: 12/12.

- Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không.

- Con ông: Cao Minh Đ (đã chết); Con bà: Lý Thị V (đã chết);

- Tiền án, tiền án: không.

- Cấm đi khỏi nơi cư trú số 07, ngày 26/12/2016

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Cao Minh Đ:

1. Luật sư Nguyễn Văn N Sinh năm 1985. Công ty TNHH Luật sống - thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (Có mặt).

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Cao M:

Trần Thị Ph – Sinh năm 1954 (Vợ bị cáo Đ) (Có mặt). Cư trú tại: ấp Trần Độ, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau.

* Bị hại : Ông Phan Văn Ú  –Sinh năm 1969 (Đã chết).

Cư trú tại: ấp Tân Hòa, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau.

* Người đại diện hợp pháp cho người bị hại:

Anh Phan Văn H – Sinh năm 1992 (Có mặt).

Cư trú tại: ấp Tân Hòa, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Cao Minh Điệp bị Viện kiểm sát nhân huyện C truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2015 Cao Minh Đ, thường trú: ấp Tân Hòa, xã Thạnh Phú, huyện C điều khiển xe mô tô hiệu Future biển số kiểm soát 69E1-171.80 chạy trên tuyến Quốc lộ 1A hướng từ C đi Cà Mau khi đến địa phận ấp Tân Hòa, xã Thạnh Phú thì đụng vào người của anh Phan Văn Ú, sinh năm 1969, ngụ cùng ấp đang đi bộ cùng chiều. Tai nạn xãy ra làm anh Ú và Đ đều bị thương nặng, được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau cấp cứu. Đến ngày 28/8/2015 anh Phan Văn Ú tử vong, còn Cao Minh Đ được người nhà đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh điều trị.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C thực hiện lúc 09 giờ 30 phút, ngày 28/8/2015 tại ấp Tân Hòa, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau thể hiện:

+ Tai nạn xảy ra trên tuyến Quốc lộ 1A, mặt lộ rộng 7,8m, trải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất. Hiện trường được khám theo hướng Bắc – Nam và được tính vào lề lộ bên phải theo hướng C – Cà Mau làm hướng chuẩn, chọn cột mốc H1/2260 làm cột mốc chuẩn…

+ Xe mô tô biển kiểm sát 69E1-171.80 có tâm bánh xe trước đo vào lề chuẩn dài 1m50, đo đến vị trí vết màu đỏ nghi máu (M1) nơi nạn nhân nằm dài 2m24, đo đến vết màu đỏ nghi máu của ông Cao Minh Đ (M2) dài 1,50m, đo đến cột mốc dài 40m80. Tâm bánh xe sau đo vào lề chuẩn dài 2m50, đo đến cột mốc dài 39m50.

+ Vị trí vết màu đỏ (M1) đo vào lề chuẩn dài 0,25m, đo đến đầu vết cày thứ nhất dài 7m40, đo đến cột mốc chuẩn dài 39m80.

+ Vị trí vết màu đỏ (M2) đo vào lề chuẩn dài 2m50, đo đến tâm bánh trước xe 69E10-171.80 dài 1m50, đo đến tâm bánh sau xe dài 1m60.

* Tại biên bản khám nghiệm phương tiện lúc 14 giờ, ngày 28/8/2015 tại Công an huyện Cái Nước xác định:

+ Vè chắn bùn phía trước bị trầy xước ngay mỏ vè kích thước 05cm x 04cm; bánh xe trước bị xẹp; vè chắn bùn bên phải bị trầy xước kích thước 08cm x 04cm theo hướng từ trước ra sau; vè chắn bùn bên trái bị bể và hở một phần kích thước 7,5cm x 02cm; chụp đầu đèn bị bể mất kích thước 30cm x 25cm; ốp chụp mặt nạ đầu đèn, đồng hồ bị trầy xước kích thước 3,5cm x 1,5cm theo hướng từ trước ra sau.

* Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 147-GĐPY/2015 ngày 28/8/2015 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:

+ Các tổn thương chính: Ở thái dương trán phải có vết trầy xước da, kích thước 09cm x 06cm; máu tụ dưới da đầu vùng thái dương trán phải nhiều và dập cơ thái dương; máu tụ nhiều ở ngoài màng cứng; hộp sọ ngấm hồng cầu; bầm tụ máu lang tỏa ở trong tổ chức não; sâu trong bán cầu đại não bầm và tụ máu, chứa nhiều máu loãng.

+ Nguyên nhân chết: Nguyên nhân chết do chấn thương sọ não kín.

Cao Minh Đ sau khi gây tại nạn cũng bị thương nặng, có dấu hiệu của bệnh tâm thần. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 137/2016/KLGĐTC ngày 17/11/2016 và Công văn số 137.0/PYTT ngày 17/11/2016 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận:

+ Về y học: Hiện tại có bệnh lý tâm thần: hội chứng sau chấn động não mức độ suy não chấn thương; nguyên nhân bệnh: tai nạn giao thông ngày 27/8/2015 dẫn đến chấn thương sọ não để lại di chứng hội chứng sau chấn động não mức độ suy não chấn thương.

+ Về năng lưc: Hiện tại đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.

+ Về trách nhiệm hình sự: Hiện tại đương sự có năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do bệnh lý tâm thần làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

* Tại bản phân tích lỗi ngày 07/9/2016 của Đội Cảnh sát giao thông đường bộ Công an huyện C thể hiện: Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông đường bộ nêu trên là do Cao Minh Đ, điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông được quy định tại điểm c khoản 6, Điều 6 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính Phủ.

Tại bản cáo trạng số: 12/KSĐT-TA ngày 17 tháng 3 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố Cao Minh Đ về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 202; các điểm b, p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Cao Minh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, đề nghị xử phạt bị cáo Cao Minh Đ từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Luật sư và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2015 Cao Minh Đ, thường trú: ấp Tân Hòa, xã Thạnh Phú, huyện C điều khiển xe mô tô hiệu Future biển số kiểm soát 69E1-171.80 chạy trên tuyến Quốc lộ 1A hướng từ C đi Cà Mau khi đến địa phận ấp Tân Hòa, xã Thạnh Phú thì đụng vào người của anh Phan Văn Út đang đi bộ cùng chiều. Tai nạn xãy ra làm anh Út và Điệp đều bị thương nặng, được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau cấp cứu. Đến ngày 28/8/2015 anh Phan Văn Ú tử vong ngay tại chổ là thực tế có xảy ra.

Tại phiên tòa bị cáo Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C mô tả và truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Xét lời nhận tội của bị cáo Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của nhân chứng; người liên quan; biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ.

Hành vi điều khiển xe của bị cáo Cao Minh Đ điều khiển xe mô tô hiệu Future biển số kiểm soát 69E1-171.80 không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông được quy định tại điểm c khoản 6, Điều 6 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính Phủ. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Cao Minh Đ về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 điều 202 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Bị cáo Đ là người đã đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa Luật sư Nguyễn Văn N cho rằng: Sau khi bị cáo Cao Minh Đ khi gây ra tai nạn làm cho ông Phan Văn Ú chết thì bản thân bị cáo Đ củng bị thương tích dẫn đến bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Đồng thời bị cáo Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Xét thấy, hành vi của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn của người tham gia giao thông, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Đặc biệt trong thời gian qua tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn huyện C nói riêng và tình hình tại nạn giao thông trong tỉnh Cà Mau nói chung liên tục xảy ra. Trong vụ án này hành vi của bị cáo đã trực tiếp tước đi vĩnh viễn mạng sống của ông Phan Văn Ú, gây đau thương mất mát cho gia đình, người thân của ông Ú không có gì có thể bù đắp được. Do đó, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để có điều kiện cải tạo bị cáo thành người có ý thức tốt khi tham gia giao thông. Qua đây, cũng góp phần tuyên truyền giáo dục pháp luật đối với những người tham gia giao thông phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật để không phải những hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải, bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho gia đình người bị hại; bị cáo có nhân thân tốt; hiện nay sức khỏe bị cáo kém do tai nạn xãy ra; tại phiên tòa đại diện cho gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử có xem xét, cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định trong Bộ Luật hình sự, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Phía gia đình bị cáo Đ đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 60.000.000 (Sáu mươi triệu đồng), hiện nay đại diện gia đình bị hại là anh Phan Văn H tiếp tục yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm các khoảng gồm: Chi phí phục vụ cho tang lễ; tổn thất tin thần; cấp dưỡng … tổng số tiền 140.000.000 (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường tiếp tục cho gia đình bị hại số tiền 140.000.000 đồng, xét thấy đây là ý chí hoàn toàn tự nguyện bồi thường của bị cáo, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

Đối với xe mô tô hiệu Future màu đỏ biển số kiểm soát 69E1-171.80 trả lại cho bị cáo Điệp là phù hợp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Cao Minh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Khoản 1 và khoản 5 Điều 202; điểm b, p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Cao Minh Đ 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng: Các Điều 590, 591, 592 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Cao Minh Đ bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho anh Phan Văn H là người đại diện hợp pháp cho bị hại tổng số tiền là 140.000.000 (Một trăm bốn mươi triệu đồng).

Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo chiếc Future màu đỏ biển số kiểm soát 69E1-171.80, hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/02/2017.

Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc Bị cáo Cao Minh Đ phải chịu số tiền là 200.000 (Hai trăm ngàn đồng); Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bị cáo Cao Minh Đ phải chịu 7.000.000 (Bảy triệu đồng). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C khi án có hiệu lực pháp luật.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


118
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về