Bản án 17/2020/HSST ngày 18/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 17/2020/HSST NGÀY 18/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18/11/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/TLST- HS ngày 03/10/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST- HS ngày 02/11/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Thị L, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1964, tại Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản P L, xã T L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn Đanh (đã chết) và bà: Quàng Thị Yêu (đã chết); có chồng: Lường Văn Đôi, (đã chết) và 01 con, sinh năm 1990 (đang chấp hành án); Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo đã có án tích và được xóa án tích, không bị xử lý hành chính; bị bắt từ ngày 13/8/2020 "Có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 09 giờ ngày 13/8/2020, bị cáo đi xe đạp từ nhà đến khu vực rừng thuộc bản Lọng Tóng, xã T L, huyện Đ B với mục đích là mua ma túy về sử dụng. Bị cáo gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi, không biết lai lịch 01 gói Heroine và 02 gói hồng phiến (bên trong có 20 viên hồng phiến) với giá tiền là 1.000.000đ. Sau đó bị cáo cầm số ma túy bên tay phải rồi đi xe đạp về nhà. Hồi 13 giờ cùng ngày khi bị cáo đang đi về đến khu vực bản Món, xã T L thì bị tổ công tác đồn Biên phòng Thanh Luông phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng ở tay phải bị cáo là 01 gói Heroine và 02 gói hồng phiến (bên trong có 20 viên hồng phiến) và chiếc xe đạp do bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 14/8/2020 đã xác định:

- Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 1,03 gam;

- Số viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 2,08 gam;

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số: 784/GĐ - PC09 ngày 20/8/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng được trích từ vật chứng thu giữ của Quàng Thị L gửi giám định là Heroine;

- Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Thị L gửi giám định là Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 253/CT-VKSĐB ngày 12/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố bị cáo Quàng Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/Bộ luật Hình sự, Điểm a Khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng Hình sự về xử lý vật chứng. Bị cáo được miễn án phí HSST.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Tôi biết hành vi của tôi là vi phạm pháp luật, tôi xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của tôi, cho tôi xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi của bị cáo: Ngày 13/8/2020 bị cáo đi mua hai chất ma túy là Heroine và Methamphetamine về sử dụng. Bị cáo đang trên đường về thì bị bắt quả tang trong đó Heroine có khối lượng 1,03 gam và 2,08 gam Methamphetamine.

nh vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

[2]. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là nghiêm trọng, nên cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có anh trai được Nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng Ba, hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn do chồng đã chết và một người con duy nhất thì đang đi chấp hành án, bị cáo chỉ có một mình và là lao động duy nhất trong gia đình (có giấy xác nhận của chính quyền địa phương) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS. Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ có được là do bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi. Do bị cáo không biết lai lịch, nên CQĐT không làm rõ được.

[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.

[8]. Vật chứng: 1,03 gam Heroine, gửi giám định 0,28 gam; 2,08 gam Methamphetamine, gửi giám định 0,2 gam (không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định) cần tịch thu tiêu hủy và tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe đạp là phương tiện phạm tội theo quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS .

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS.

1.Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phat: Xử phạt bị cáo Quàng Thị L 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 13/8/2020.

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.

4. Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 1,03 gam Heroine, gửi giám định 0,28 gam;

2,08 gam Methamphetamine, gửi giám định 0,2 gam (không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định) cần tịch thu tiêu hủy và tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu VANTANA, màu đen, xe cũ là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

(Vật chứng đã được công an huyện Đ B chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B ngày 14/10/2020).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2020/HSST ngày 18/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:17/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về