Bản án 17/2019/HS-PT ngày 17/07/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 17/2019/HS-PT NGÀY 17/07/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2019/TLPT - HS ngày 27/5/2019 đối với bị cáo Hoàng Văn T do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2019/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

- Bị cáo bị kháng nghị: Hoàng Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày 06 tháng 4 năm 1995 tại huyện V, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; nghề ngH: Tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; con ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị D; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày02/10/2018, đến ngày 11/10/2018 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ thay thế bằng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Hoàng Văn H không có kháng cáo, kháng nghị.

Những người bị hại: Anh Hoàng Văn B; sinh năm: 1979 và Chị Lương Thị C; sinh năm: 1988. Cùng trú tại: Thôn Nhuần 2, xã Phú Nhuận, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Lương Thị C là anh Hoàng Văn B (theo giấy ủy quyền ngày 30/10/2018). Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 29/9/2018, Hoàng Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B2-406.22 chở Hoàng Văn T đi từ thị trấn Phố Lu đến ngã ba gần gầm cầu chui đường Co tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc địa phận xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai thì H nhìn thấy xe mô tô Wave alpha BKS 24B2-293.69 do chị Lương Thị C điều khiển chở anh Hoàng Văn B là chồng chị C đi ngược chiều phía trước, trên vai phải chị C có đeo 01 túi xách giả da màu đen nên đã nảy sinh ý định cướp giật chiếc túi xách của chị C để lấy tài sản. H rủ Thỏa cướp giật tài sản của vợ chồng chị C, Thỏa đồng ý. Đồng thời H điều khiển xe mô tô quay lại đuổi theo áp sát xe mô tô của chị C, khi cách nhau khoảng 50m thì H bảo Thỏa cướp giật chiếc túi của chị C, H tiếp tục điều khiển xe đi song song về phía bên phải so với xe mô tô của chị C điều khiển, lúc này Thỏa ngồi phía sau vươn người về trước dùng tay trái nắm vào tay xách chiếc túi của chị Lương Thị C đang đeo, giật mạnh theo hướng từ trên xuống dưới làm đứt quai túi xách. Sau khi giật được túi xách Thỏa bảo H bỏ chạy nên H đã tăng tốc điều khiển xe bỏ chạy theo đường tỉnh lộ 152 hướng thị trấn Phố Lu đi thị trấn Tằng Loỏng. Trên đường bỏ chạy, Thỏa kiểm tra túi xách và lấy được 01 điện thoại XIAOMI REDMI 6A cất vào túi quần nhưng chưa kịp nói cho H biết, kiểm tra chiếc ví giả da bên trong túi xách Thỏa nói với H đã cướp được số tiền mặt 2.570.000đ còn đối với 01 chiếc túi xách và 01 ví da cùng một số giấy tờ tùy thân của vợ chồng chị C thì Thỏa vứt xuống ven đường. Sau khi về đến nhà, H rủ Thỏa bỏ trốn về Hà Nội. Khi xuống đến Hà Nội, Thỏa nói cho H biết ngoài số tiền mặt còn chiếm đoạt được 01 chiếc điện thoại di động XIAOMI REDMI 6A, sau đó Thỏa đã bán chiếc điện thoại cho một người đàn ông không quen biết ở Hà Nội được 1.000.000đ. Số tiền có được từ việc cướp giật tài sản, cả hai đã cùng nhau chi tiêu hết, chỉ còn lại 20.000đ. Đến ngày 02/10/2018, Hoàng Văn T và Hoàng Văn H ra đầu thú.

Tại kết luận định giá tài sản số 40/LK-HĐĐG ngày 01/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Thắng, kết luận giá trị tài sản chiếm đoạt tại thời điểm xảy ra vụ án gồm: 01 chiếc điện thoại XIAOMI REDMI 6A có trị giá 2.210.750đ; 01 túi xách nữ giả da màu đen có trị giá 162.500đ; 01 ví nam giả da màu đen có trị giá 130.000đ.

Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 5.073.250đ.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại toàn B số tiền theo yêu cầu là 4.780.750đ. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đối với 01 túi xách, 01 chiếc ví giả da và các giấy tờ tuỳ thân, các bị hại đều đã được trả lại và không đề nghị giải quyết. Đối với chiếc xe mô tô Exciter màu Cm, BKS 24B2 - 406.22, Cơ quan điều tra xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn D không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên đã trả lại cho chủ sở hữu.

Bản án số: 14/2019/HS - ST ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Hoàng Văn T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 5 (năm) năm kể từ ngày tuyên án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Hoàng Văn H mức án 03 năm 03 tháng tù cùng về tội danh trên. Xử lý vật chứng và tuyên án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định.

Ngày 03/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đã ban hành kháng nghị số 01/QĐ - KN: Đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 14/2019/HS - ST ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng theo hướng không cho bị cáo Hoàng Văn T được hưởng án treo.

*Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận toàn B hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên.

- Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai: Giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng; Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, sửa bản án sơ thẩm số: 14/2019/HS - ST ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng như sau: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Hoàng Văn T 03 (ba) năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của bị cáo Hoàng Văn H, bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 29/9/2018, các bị cáo Hoàng Văn H và Hoàng Văn T đã có hành vi sử dụng xe mô tô áp sát xe mô tô của chị C và anh B để giật tài sản, chiếm đoạt tài sản có trị giá 2.503.250đ và tiền mặt 2.570.000đ, tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 5.073.250đ. Do các bị cáo dùng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ thực hiện việc cướp giật tài sản của chị C và anh B đang điều khiển xe mô tô, đây là thủ đoạn gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại. Vì vậy, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai thấy:

Về tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn T thấy: Bị cáo là người thực hành tích cực trong vụ án, trực tiếp thực hiện hành vi giật tài sản. Các bị cáo dùng thủ đoạn nguy hiểm thực hiện hành vi phạm tội có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại và những người tham gia giao thông khác, hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Tại phiên tòa sơ thẩm và tài liệu do Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng thu thập bị cáo Thỏa khai nhận tuy không nghiện ma túy nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 6-9/2018 bị cáo đã nhiều lần sử dụng ma túy. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cũng khai trước khi phạm tội bị cáo đã nhiều lần sử dụng ma túy. Như vậy, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt nhưng bản án sơ thẩm nhận định bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có tiền sử bệnh động kinh từ năm 13 tuổi, hiện nay vẫn điều trị ngoại trú theo hồ sơ bệnh án và xác định đây là những căn cứ cho bị cáo hưởng án treo là không chính xác.

Từ phân tích nêu trên xét thấy: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như án sơ thẩm đã nhận định. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, do đó đã xử phạt bị cáo 03 năm tù cho hưởng án treo là không đúng pháp luật, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Do vậy, cấp phúc thẩm xét thấy cần thiết phải sửa bản án sơ thẩm, không cho bị cáo được hưởng án treo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là phù hợp. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; sửa bản án số 14/2019/HS - ST ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai như sau:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Hoàng Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ.

2. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.


75
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-PT ngày 17/07/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:17/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/07/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về