Bản án 17/2018/DS-ST ngày 27/11/2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 17/2018/DS-ST NGÀY 27/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 11 năm 2018 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 74/2018/TLST-DS ngày 03/7/2018 về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2018/QĐXXST-DS ngày 22/10/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2018/QĐST-DS ngày 08/11/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Tổng giám đốc

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Địa chỉ: Số 35 HV, quận H, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Danh Đ – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM (Theo Quyết định ủy quyền số 8695/QĐ-BIDV ngày 28/10/2016).

- Người được ủy quyền lại: Ông Lê Tấn N, sinh năm 1981 – Chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch K - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM (Theo giấy ủy quyền số 667/CV-BIDV.BM ngày 12/6/2018). Có mặt.

Địa chỉ: Số 114 HV, thị trấn B, huyện K, Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Ông Thân Văn Đ1, sinh năm 1986. Vắng mặt. Trú tại: Buôn R, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện; tại bản tự khai và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Tấn N trình bày:

Ngày 11/8/2016 ông Thân Văn Đ1 ký hợp đồng tín dụng số 01/2016/8830146/HĐTD với Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K để vay số tiền 250.000.000đ, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 10,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay 11 tháng, hạn trả nợ vào ngày 11/7/2017.

Khi vay có thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 577939, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.278m2, địa chỉ thửa đất: Thị trấn B, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 25/9/2002 mang tên hộ Thân Đ2 (đã tặng cho ông Thân Văn Đ1 vào ngày 08/8/2016).

Quá trình vay nợ ông Thân Văn Đ1 chưa trả cho Ngân hàng khoản tiền nào. Hiện nay ông Đ1 còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam số tiền 250.000.000đ gốc và tiền lãi tính đến ngày 27/11/2018 là 72.807.292 đồng.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam khởi kiện yêu cầu ông Thân Văn Đ1 phải trả cho Ngân hàng số tiền 322.807.292đ; trong đó tiền gốc là 250.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày 27/11/2018 là 72.807.292 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/11/2018 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp ông Đ1 không trả được nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.

- Đối với bị đơn ông Thân Văn Đ1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Đ1 không có mặt tại địa phương, cố tình giấu địa chỉ nên không lấy lời khai được.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Thẩm quyền thụ lý, xác định tư cách tham gia tố tụng, việc xác minh thu thập chứng cứ, trình tự thụ lý, giao thông báo thụ lý, thời hạn xét xử theo đúng quy định tại các Điều 35; 39; 48; 68; 96; 97; 102; 195; 196; 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ông Đ1 không có mặt tại nơi cư trú và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì Tòa án tiếp tục giải quyết là đúng quy định.

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đương sự theo các Điều 70; 71; 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 40; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam.

Buộc ông Thân Văn Đ1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam số tiền 250.000.000đ gốc và tiền lãi theo quy định.

Trong trường hợp ông Đ1 không trả được khoản nợ trên cho Ngân hàng thì xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi công nợ.

Về chi phí giám định: Buộc ông Thân Văn Đ1 phải chịu tiền chi phí giám định.

Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam chịu chi phí thông báo.

Về án phí: Buộc ông Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Thân Văn Đ1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 250.000.000đ gốc và tiền lãi phát sinh từ khi vay cho đến nay, đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”; bị đơn ông Thân Văn Đ1 cư trú tại thị trấn B, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn ông Thân Văn Đ1 nhưng ông Đ1 không có mặt tại địa phương, cố tình giấu địa chỉ, không thông báo cho nguyên đơn biết, trốn tránh việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trả nợ.

Tòa án đã làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông Thân Văn Đ1 nhưng ông vẫn không đến Tòa án làm việc, nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai, hòa giải được. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40; điểm b, khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 5; Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên toà bị đơn ông Đ1 vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần, do vậy Toà án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Ngày 11/8/2016 ông Thân Văn Đ1 ký hợp đồng tín dụng số 01/2016/8830146/HĐTD với Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Ban Mê – Phòng giao dịch K để vay số tiền 250.000.000đ, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 10,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay 11 tháng, hạn trả nợ vào ngày 11/7/2017.

Quá trình vay nợ ông Thân Văn Đ1 chưa trả cho Ngân hàng được khoản tiền nào. Hiện nay ông Thân Văn Đ1 còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam số tiền gốc 250.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 27/11/2018 là 72.807.292 đồng

Do bị đơn không hợp tác làm việc, để có căn cứ cho việc giải quyết vụ án, nguyên đơn đã yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bị đơn, Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của ông Thân Văn Đ1 tại Hợp đồng tín dụng số 01/2016/8830146/HĐTD ngày 11/8/2016 giữa bên cho vay là Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K và bên vay là ông Thân Văn Đ1 do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án so với chữ ký và chữ viết của ông Thân Văn Đ1 trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2016/8830146/HĐBĐ ngày 11/8/2016 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K và bên thế chấp là ông Thân Văn Đ1 và đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11/8/2016 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K và bên thế chấp là ông Thân Văn Đ1 (các tài liệu so sánh đều do nguyên đơn cung cấp, có chứng thực của Văn phòng công chứng P và chứng nhận của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K).

Tại kết luận giám định số 109/PC09 ngày 14/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Lăk đã kết luận:

Chữ ký, chữ viết mang tên Thân Văn Đ1 dưới mục “Bên vay” ở trang 3 trong Hợp đồng tín dụng số 01/2016/8830146/HĐTD ngày 11/8/2016 (ký hiệu A1) so với chữ kí, chữ viết đứng tên Thân Văn Đ1 trong các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2016/8830146/HĐBĐ ngày 11/8/2016), M2 (đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 02/8/2010) là do cùng một người ký và viết ra.

Căn cứ vào kết quả giám định, trên cơ sở xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận giữa các bên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của hợp đồng dân sự vay tài sản. Đến hạn trả nợ, ông Thân Văn Đ1 không thanh toán được nợ cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam khởi kiện yêu cầu ông Thân Văn Đ1 phải trả cho Ngân hàng số tiền 322.807.292đ; trong đó tiền gốc là 250.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày 27/11/2018 là 72.807.292 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/11/2018 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc là có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại các Điều 463; 466 Bộ luật dân sự.

Sau khi ông Thân Văn Đ1 trả nợ xong thì Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K) có nghĩa vụ trả lại cho ông Đ1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 577939 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 25/9/2002 mang tên hộ Thân Đ2 (đã tặng cho ông Thân Văn Đ1 vào ngày 08/8/2016).

Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Bảo đảm cho hợp đồng tín dụng ông Thân Văn Đ1 đã thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền cới đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 577939, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.278m2, địa chỉ thửa đất: Thị trấn B, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 25/9/2002 mang tên hộ Thân Đ2 (đã tặng cho ông Thân Văn Đ1 vào ngày 08/8/2016). Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2016/8830146/HĐBĐ ngày 11/8/2016 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Ban Mê – Phòng giao dịch K) với ông Thân Văn Đ1 được chứng thực tại Văn phòng công chứng Phước Thịnh, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, việc đăng ký thế chấp của các bên là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Đây là hợp đồng thế chấp hợp pháp. Trong trường hợp ông Đ1 không trả được khoản nợ trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam thì xử lý tài sản thế chấp của ông Đ1 theo quy định của pháp luật để thu hồi công nợ.

[4] Về chi phí giám định: Căn cứ vào Điều 161 Bộ luật tố tụng Dân sự, do ông Thân Văn Đ1 cố tình giấu địa chỉ, không hợp tác làm việc nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết và kết quả giám định xác định đúng chữ ký, chữ viết là của ông Đ1. Do đó ông Đ1 phải chịu tiền chi phí giám định là 4.320.000đ. Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K) được nhận lại 4.320.000đ tiền tạm ứng chi phí giám định sau khi thu được của ông Đ1.

[5] Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Căn cứ Điều 180 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam chịu chi phí là 2.875.000đ. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí thông báo đã nộp tại Tòa án là 2.875.000đ.

[6] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều  39; Điều 147; Điều 161; Điều 180; điểm e khoản 1 Điều 192; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; khoản 3 Điều 40;Điều 299; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam.

Buộc ông Thân Văn Đ1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K) số tiền 322.807.292đ; trong đó tiền gốc là 250.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày 27/11/2018 là 72.807.292 đồng

Kể từ tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bị đơn vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Sau khi ông Thân Văn Đ1 trả nợ xong thì Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K) có nghĩa vụ trả lại cho ông Đ1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 577939 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 25/9/2002 mang tên hộ Thân Đ2 (đã tặng cho ông Thân Văn Đ1 vào ngày 08/8/2016).

Trong trường hợp ông Thân Văn Đ1 không trả được khoản nợ trên cho Ngân hàng thì xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi công nợ. Tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2016/8830146/HĐBĐ ngày 11/8/2016 gồm Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số V 577939, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.278m2, địa chỉ thửa đất: Thị trấn B, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 25/9/2002 mang tên hộ Thân Đ2 (đã tặng cho ông Thân Văn Đ1 vào ngày 08/8/2016).

2. Về chi phí giám định: Buộc ông Thân Văn Đ1 phải chịu tiền chi phí giám định là 4.320.000đ (Bốn triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng). Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K) được nhận lại 4.320.000đ tiền tạm ứng chi phí giám định sau khi thu được của ông Đ1.

3. Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam chịu chi phí là 2.875.000đ. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí thông báo đã nộp là 2.875.000đ.

4. Về án phí:

- Buộc ông Thân Văn Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.140.000đồng.

- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh BM – Phòng giao dịch K) số tiền tạm ứng án phí 7.263.000đ (Bảy triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số: 0005688 ngày 25/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

332
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2018/DS-ST ngày 27/11/2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

Số hiệu:17/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông A Na - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về