Bản án 16/2018/HNGĐ-ST ngày 15/01/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 16/2018/HNGĐ-ST NGÀY 15/01/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 15 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 482/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2017, về tranh chấp “ly hôn"  theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 408/2017/QĐXX- ST ngày 28 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Ngọc X, sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp CĐNA, xã NVK, huyện PT, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp BS, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 27/11/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án chị Đinh Ngọc X trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Đinh Ngọc X và anh Nguyễn Hoàng B kết hôn ngày 11/11/2015 âm lịch, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã NVK, huyện PT. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống bên gia đình anh B đến tháng 6/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau về tính cách, thường xảy ra cự cải về vấn đề tài chính trong gia đình. Khi xảy ra cự cải anh B hay hăm dọa và đánh chị 3 lần. Trước đó, khoảng tháng 5/2017, anh B còn dùng dao chém nhưng chị tránh được nên anh B chém rách mùng. Chị có trình báo chính quyền địa phương nhưng không có lập biên bản mà chỉ hòa giải, hàn gắn hai bên gia đình. Ngoài ra, anh B không quan tâm, chăm lo cho cuộc sống của chị, khi đi làm về thường hay đi chơi và nhậu nên có lần chị có thái độ không đúng với bạn bè của anh B, giữa chị và mẹ chồng cũng có xảy ra mâu thuẫn. Chị X và anh B sống ly thân nhau từ ngày 19/6/2017 cho đến nay. Nay chị không còn tình cảm và yêu cầu được ly hôn anh B.

- Về con chung: Có một người con chung tên Nguyễn Hoàng Thái N, sinh ngày 23/12/2016  hiện nay do chị X nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị X yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ người khác, người khác nợ lại: Chị X xác định không có.

* Bị đơn anh  Nguyễn Hoàng B trình bày:

- Về hôn nhân: Anh B xác định lời trình bày của chị X về thời gian kết hôn, hôn nhân tự nguyện và việc có đăng ký kết hôn, thời gian phát sinh mâu thuẫn và thời gian ly thân là đúng. Tuy nhiên, lời trình bày của chị X về nguyên nhân mâu thuẫn của anh chị là không đúng. Do công việc của anh là kéo tôm và trải bạc hầm tôm công nghiệp nên không thường xuyên có mặt ở nhà, không thể quan tâm, chăm sóc cho chị được nhiều, anh cũng không có hăm dọa gì chị X. Nguyên nhân chính chị xin ly hôn với anh là do chị X và mẹ anh có mâu thuẫn với nhau. Trong cuộc sống anh chị cũng có xảy ra cự cải nhưng không nghiêm trọng như lời trình bày của chị X. Anh xác định khoảng tháng 5/2017, anh có dùng dao chém rách mùng nhưng nguyên nhân là do chị X có thái độ không đúng khi bạn bè anh đến nhà chơi, anh không chém chị X. Nay anh xác định còn tình cảm và không đồng ý ly hôn với chị X.

- Về con chung: Anh B xác định lời trình bày của chị X về con chung là đúng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị X nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ người khác, người khác nợ lại: Anh B xác định không có.

Tại phiên tòa anh B trình Bày: Anh vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý ly hôn chị X, tuy nhiên nếu chị X cương quyết ly hôn thì anh đồng ý. Về con chung trường hợp Tòa án giải quyết cho anh và chị X ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị X cấp dưỡng. Lý do anh yêu cầu nuôi con là do chị X không có thu nhập đảm bảo nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hôn nhân: Chị Đinh Ngọc X và anh Nguyễn Hoàng B kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã NVK, huyện PT, tỉnh Cà Mau vào ngày 04/12/2015 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị X có yêu cầu ly hôn anh B không đồng ý.

Xét về nguyên nhân mâu thuẫn chị X đặt ra anh B xác định có cự cải nhưng không nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị X xác định hiện nay không còn tình cảm và cương quyết ly hôn anh B. Mặc khác, tại phiên tòa chị X và anh B xác định anh chị có mâu thuẫn do chị X có thái độ và hành động không tốt với bạn bè của anh B khi đến nhà anh chơi như ném thức ăn và vật dụng ra cửa nên khi tức giận anh B có dùng dao chém rách mùng của vợ chồng anh. Ngoài ra anh B xác định khi anh đi chơi chị X cắt quần áo của anh. Các đương sự xác định mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được. Anh B và chị X đã ly thân nhau từ tháng 6/2017 cho đến nay. Xét thấy, tại điểm g khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định về hành vi bạo lực gia đình như sau:

“Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình”, do chị X và anh B có hành vi bạo lực gia đình quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của chị X và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị X cho chị X được ly hôn anh B.

[2] Về con chung: Chị X và anh B có một người con chung tên Nguyễn Hoàng Thái N, sinh ngày 23/12/2016 hiện do chị X nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị X và anh B đều có yêu cầu nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy tại khoản 3 Điều 81 của luật hôn nhân và gia đình quy định“ Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi…”. Đối chiếu điều luật quy định xét thấy hiện tại cháu Thái N đã được chị X nuôi dưỡng ổn định, hiện nay cháu chỉ hơn 12 tháng tuổi cần có sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Do đó nhằm để đảm bảo cho việc thuận tiện chăm sóc và sự phát triển về mọi mặt của cháu Thái N nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị chị X giao cháu Thái N cho chị X tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Vấn đề cấp dưỡng chị X và anh B không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về tài sản chung, nợ người khác, người khác nợ lại: Chị X và anh B  xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị X phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82  của Luật hôn nhân và gia đìnhNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Ngọc X, cho chị Đinh Ngọc X được ly hôn anh  Nguyễn Hoàng B.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Hoàng Thái N (nam), sinh ngày 23/12/2016 cho chị Đinh Ngọc X tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

2.2. Anh Nguyễn Hoàng B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Đinh Ngọc X phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), ngày 27 tháng 11 năm 2017 đã dự nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm tại biên lai thu số 0009361 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


60
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2018/HNGĐ-ST ngày 15/01/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:16/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về