Bản án 158/2019/DS-ST ngày 10/09/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 158/2019/DS-ST NGÀY 10/09/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2019/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 378/2019/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 418/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trình Văn T, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Tổ 05, ấp B, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn:

1/ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1961;

2/ Bà Phú Thị H, sinh năm 1963;

Cùng địa chỉ: Tổ 21, ấp BD, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, ông T có mặt; ông N, bà H vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do đã có mâu thuẫn từ trước trong việc tranh chấp quyền sử dụng đất, Khoảng 15 giờ ngày 27/02/2019 tại trước nhà ông Nguyễn Văn N thuộc ấp BD, xã K, huyện A, tỉnh An Giang xảy ra việc cự cãi, đánh nhau giữa ông Nguyễn Văn N, bà Phú Thị H với ông Trình Văn T làm ông T bị thương tích.

Theo trình bày của ông Trình Văn T: Ông T, ông N và bà H có quan hệ bà con với nhau và có xảy ra mâu thuẫn do tranh chấp đất đai. Sự việc đã được Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết thông qua Bản án hành chính số 04/2017/HC-ST ngày 30/3/2017, theo đó Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị G (mẹ ruột của ông T). Ngày 27/02/2019, khi ông T đến phần đất tranh chấp để thăm viếng mộ ông bà thì ông N và bà H đã dùng cây đánh nhiều cây trúng vào người ông T gây thương tích. Sự việc được chính quyền địa phương can thiệp và ông T được đưa đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện A từ ngày 27/02/2019 đến ngày 04/3/2019. Ông T yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Phú Thị H có trách nhiệm bồi thường các khoản thiệt hại, tiền thuốc; viện phí; mất thu nhập trong những ngày nằm viện của ông và mất thu nhập của người chăm sóc; tiền mất thu nhập khi về nhà dưỡng bệnh không đi làm được; tiền bù đắp tổn thất tinh thần với tổng số tiền 10.692.000 (mười triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn) đồng.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 11/3/2019 ông Nguyễn Văn N trình bày: Khoảng 15 giờ ngày 27/02/2019 ông T đến trước nhà ông N và nói “quân giựt đất”, ông N hỏi lại thì ông T thách thức “tao nói như thế mày làm gì được tao”. Ông N vào nhà lấy một số cây củi tre, ông T tiếp tục dùng những lời thách thức nên ông N dùng củi tre ném vào người ông T không biết trúng đâu, nhưng thấy có chảy máu. Ông T bỏ ra đường ngồi khoảng một giờ thì các anh Công an xã Khánh Bình đến hỏi sự việc và kêu ông T đi điều trị. Ông N cũng xác định bà H không có tham gia gây thương tích cho ông T.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 18/3/2019 bà phú Thị H trình bày: Khoảng 15 giờ ngày 27/02/2019, bà H đang ở nhà thì nghe tiếng cự cải, bà H bước sang nhà ông N (ông N là anh rễ bà H) thì thấy ông N và ông T đang cự cải. Ông T đòi chém hết dòng họ nên bà H có nói “Mày chém chị tao chưa đủ sao hả mà còn đòi chém hết dòng họ tao”. Lúc này bà thấy ông N dùng cây củi ném thẳng vào người ông T. Sau khi bị ném trúng, ông T bỏ ra phía cây rơm, một lúc sau thì lực lượng Công an xã K đến. Bà H xác định bà không tham gia gây thương tích cho ông T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc mở phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N và bà H đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến của ông N, bà H.

Về tài liệu, chứng cứ:

Ông T giao nộp bản sao Sổ hộ khẩu gia đình mang tên chủ hộ Phan Thị G, Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trình Văn T; các hóa đơn, chứng từ điều trị, giấy ra viện ngày 04/3/2019.

Ông Nguyễn Văn N và bà Phú Thị H không giao nộp tài liệu, chứng cứ.

Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án tiến hành thu thập hồ sơ giải quyết vụ việc của Công an xã K; Hồ sơ Bệnh án; xác minh địa chỉ cư trú của ông Nguyễn Văn N và bà Phú Thị H.

Tại phiên tòa, ông T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, ông T yêu cầu ông N, bà H bồi thường tổng thiệt hại là 5.000.000 đồng.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Ông N, bà H vắng mặt lần thứ hai không lý do, nên tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông N, bà H là đúng quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xác định thương tích của ông Trình Văn T là do ông Nguyễn Văn N dùng gây ra, không có căn cứ xác định bà H gây thương tích cho ông T, nên chỉ buộc ông N có nghĩa vụ bồi thường. Tại phiên tòa, ông T thay đổi yêu cầu là có lợi cho bị đơn, nên đề nghị chấp nhận việc thay đổi yêu cầu của ông T, buộc ông N bồi thường cho ông T 5.000.000 đồng; đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về tư cách tham gia tố tụng: Ông Trình Văn T kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Phú Thị H bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, xác định ông T là nguyên đơn; bà H và ông N là bị đơn.

Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông N và bà H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Như vậy, ông N, bà H đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ là phù hợp quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông T xác định thương tích của ông là do ông N và bà H gây ra nên ông yêu cầu ông N, bà H bồi thường. Xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”; là tranh chấp dân sự. Vụ việc xảy ra trên địa bàn huyện An Phú; bị đơn cư trú tại ấp Bình Di, xã Khánh Bình, huyện An Phú, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về thời hiệu: Vụ việc xảy ra ngày 27/02/2019, đến ngày 01/4/2019 ông T có đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường. Căn cứ Điều 588 Bộ luật dân sự, xác định vụ việc còn trong thời hiệu khởi kiện.

[4] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện và phạm vi giải quyết: Theo đơn khởi kiện, ông T kiện yêu cầu ông N, bà H bồi thường tổng thiệt hại 10.692.000 đồng. Tại phiên tòa, ông T rút lại một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu ông N, bà H bồi thường toàn bộ thiệt hại 5.000.000 đồng. Yêu cầu này không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu và có lợi cho bị đơn, phù hợp quy định tại Điều 5; khoản 4 Điều 70; khoản 2 Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận. Như vậy, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp hướng dẫn tại Mục IV, Điều 7 Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 của Tòa án nhân dân tối cao. Phạm vi giải quyết còn lại là việc ông T yêu cầu ông N, bà H bồi thường 5.000.000 đồng.

[5] Xét nội dung tranh chấp:

Theo trình bày của ông T, khi ông đến viếng mộ của họ tộc trên phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông thì bất ngờ ông N, bà H dùng cây tấn công ông gây thương tích, nên ông yêu cầu ông N, bà H có nghĩa vụ liên đới bồi thường; đồng thời yêu cầu cơ quan chức năng xử lý hành vi của ông N, bà H theo quy định của pháp luật.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trình bày của ông T tại phiên tòa có cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ ngày 27/02/2019, ông Trình Văn T đến phần đất của gia đình gần nhà ông N để viếng mộ những người trong họ tộc. Giữa ông T và ông N có cự cãi qua lại, ông T có lời lẽ xúc phạm đối với ông N và gia đình ông N. Tức giận việc ông T có hành vi, lời lẽ thách thức, ông N vào nhà lấy cây củi tre ném trúng một cây vào vùng cằm của ông T gây thương tích. Việc này được ông N thừa nhận tại Biên bản ghi lời khai ngày 11/3/2019 của Công an xã Khánh Bình, nên không cần phải chứng minh. Như vậy, xác định được ông N có tác động gây thương tích cho ông T.

Theo hồ sơ giải quyết tại Công an xã K thì bà H không thừa nhận có hành vi gây thương tích đối với ông T. Ngoài lời khai của ông T thì cũng không có chứng cứ nào khác chứng minh bà H có dùng cây đánh gây thương tích cho ông T. Từ đó có thể xác định, lời trình bày của ông T cho rằng bà H có dùng cây đánh ông T gây thương tích là không có cơ sở chấp nhận.

Theo hồ sơ bệnh án của Trung tâm y tế huyện An Phú, thì ông T chỉ bị một vết sẹo vùng cằm, đã khâu, ngoài ra ông T không có vết thương nào khác. Như vậy, có căn cứ xác định thương tích ở vùng cằm ông T là do ông N dùng cây củi tre ném trúng. Do đó chỉ buộc ông N có trách nhiệm bồi thường.

Theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự, thì thiệt hại về sức khỏe được bồi thường bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; Thiệt hại khác do luật quy định. Ngoài ra còn phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần mà người bị thiệt hại gánh chịu.

Xem xét toàn bộ hồ sơ Bệnh án, các chứng từ ông T cung cấp, tình trạng sức khỏe hiện tại của ông T, xét lỗi các bên, có căn cứ chấp nhận các khoản bồi thường: Tiền thuốc, viện phí 792.000 đồng; tiền xe 300.000 đồng; tiền mất thu nhập của người bị thiệt hại và người chăm sóc trong 06 ngày nằm viện 3.000.000 đồng (06 ngày x 2 người x 250.000 đồng); tiền bù đắp tổn thất tinh thần bằng 02 tháng lương cơ sở là 3.980.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, ông T yêu cầu bồi thường toàn bộ thiệt hại 5.000.000 đồng là có lợi cho bị đơn; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông T là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

Ngoài ra, ông T còn có yêu cầu xử lý hành vi vi phạm pháp luật của những người đánh ông gây thương tích. Xét thấy yêu cầu này của ông T không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Kiến nghị Công an xã K tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý hành chính những người tham gia đánh nhau theo quy định của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm bồi thường: Xác định thuơng tích, tổn hại sức khỏe của ông Trình Văn T là do ông Nguyễn Văn N gây ra, không có căn cứ xác định có sự tác động của bà Phú Thị H. Do đó chỉ buộc ông N có trách nhiệm bồi thường.

[7] Về chi phí tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án không phát sinh chi phí tố tụng khác, nên các đương sự không phải chịu.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận; ông N là người có lỗi và phải chịu trách nhiệm bồi thường, nên ông N phải chịu án phí. Ông T, bà H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ các điều 217, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 24; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trình Văn T;

1/ Buộc ông Nguyễn Văn N có trách nhiệm bồi thường cho ông Trình Văn T 5.000.000 (Năm triệu) đồng.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, ông T có đơn yêu cầu thi hành án mà ông N không thi hành đầy đủ khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2/ Không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc yêu cầu bà Phú Thị H cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường.

3/ Đình chỉ một phần yêu cầu của ông Trình Văn T (phần 5.692.000 đồng).

Về án phí: Ông Nguyễn Văn N chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Phú Thị H và ông Trình Văn T không phải chịu án phí.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

Án tuyên công khai có mặt ông Trình Văn T. Thời hạn kháng cáo của ông T là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/9/2019); thời hạn kháng cáo của ông ông N, bà H là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

(Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).


20
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về