Bản án 154/2019/HNGĐ-ST ngày 03/12/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 154/2019/HNGĐ-ST NGÀY 03/12/2019 VỀ LY HÔN 

Ngày 03 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 303/2019/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 353/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1976

Địa chỉ: Ấp B1, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre

- Bị đơn: Ông Ngô Văn H, sinh năm 1976

Địa chỉ: Ấp B1, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre Tất cả đương sự có mặt tại tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Bà và ông Ngô Văn H kết hôn vào năm 2002, hôn nhân do mai mối, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận và cùng tạo dựng hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Mâu thuẫn giữa ông bà ngày càng tăng, không thể hàn gắn được nên ông bà đã ly thân gần 7 năm nay.

Nay bà xác định cuộc sống hôn nhân đã không còn hạnh phúc, vợ chồng ly thân cũng đã lâu, đã không còn quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Văn H, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

- Về con chung: Bà và ông Ngô Văn H có 2 con chung là: Ngô Thanh P, sinh ngày 16/3/1993; Ngô Thành N, sinh ngày 04/7/1994. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, có thể tự lo cho bản thân nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Đ khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Đ khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bị đơn ông Ngô Văn H trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Đ ở trên. Nay bà Nguyễn Thị Đ xin ly hôn, ông yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Đ, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

- Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị Đ có 2 con chung là: Ngô Thanh P, sinh ngày 16/3/1993; Ngô Thành N, sinh ngày 04/7/1994. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, có thể tự lo cho bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tại biên bản hòa giải ngày 03/9/2019, ông H thống nhất với bà Đ là hai bên tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau đó ông H thay đổi ý kiến, ông yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của ông và bà Đ theo quy định pháp luật; nhưng ông H không xác định được tài sản chung giữa ông và bà Đ gồm những tài sản gì và ông có yêu cầu chia như thế nào. Tòa án đã giải thích các quy định pháp luật có liên quan đến việc chia tài sản chung; hướng dẫn ông H làm đơn yêu cầu chia tài sản chung và yêu cầu ông H cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh kèm theo đơn yêu cầu; đồng thời Tòa án cũng đã nhiều lần gia hạn thời hạn cho ông H để ông thực hiện việc yêu cầu chia tài sản chung theo đúng thủ tục tố tụng luật định. Tuy nhiên, đã quá thời hạn do Tòa án ấn định ông H vẫn không thực hiện.

- Về nợ chung: Ông H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Ngô Văn H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông H yêu cầu chia tài sản chung giữa ông và bà Đ trong thời kỳ hôn nhân nhưng ông cũng không trình bày được tài sản chung ông yêu cầu chia gồm những tài sản gì và ông yêu cầu chia như thế nào.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

- Bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét cho bà được ly hôn với ông Ngô Văn H. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn”.

- Bị đơn ông Ngô Văn H hiện đang cư trú tại ấp B1, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện G thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Ngô Văn H kết hôn vào năm 1993, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre vào năm 2002. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Đ cho rằng bà và ông Ngô Văn H bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng tăng, không thể hàn gắn được nên ông bà đã ly thân gần 7 năm nay. Bà xác định không còn tình cảm với ông H nữa nên xin được ly hôn. Phía ông H cũng thừa nhận giữa ông và bà Đ đã có phát sinh mâu thuẫn từ lâu; nay bà Đ xin ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn với bà Đ.

Nhận thấy, mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Ngô Văn H là có thật và cả hai đã không tìm cách tháo gỡ được làm cho hôn nhân giữa hai bên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Ngô Văn H có 2 con chung là: Ngô Thanh P, sinh ngày 16/3/1993; Ngô Thành N, sinh ngày 04/7/1994; các con chung đều đã trưởng thành nên cả bà Đ và ông H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy, hiện tại 2 cháu Ngô Thanh P và Ngô Thành N đều đã trưởng thành, có thể tự lo cho bản thân; cả bà Đ và ông H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Bà Đ khai bà và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về phía ông H, tại biên bản hòa giải ngày 03/9/2019, ông H cũng thống nhất với bà Đ là hai bên tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau đó ông H thay đổi ý kiến, ông yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của ông và bà Đ theo quy định pháp luật; nhưng ông H không xác định được tài sản chung giữa ông và bà Đ gồm những tài sản gì và ông có yêu cầu chia như thế nào. Tòa án đã giải thích các quy định pháp luật có liên quan đến việc chia tài sản chung; hướng dẫn ông H làm đơn yêu cầu chia tài sản chung và yêu cầu ông H cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh kèm theo đơn yêu cầu; đồng thời Tòa án cũng đã nhiều lần gia hạn thời hạn cho ông H để ông thực hiện việc yêu cầu chia tài sản chung theo đúng thủ tục tố tụng luật định; tuy nhiên đã quá thời hạn do Tòa án ấn định ông H vẫn không thực hiện. Tại phiên tòa hôm nay, ông H yêu cầu chia tài sản chung giữa ông và bà Đ trong thời kỳ hôn nhân nhưng ông cũng không trình bày được tài sản chung ông yêu cầu chia gồm những tài sản gì và ông yêu cầu chia như thế nào.

Xét thấy, do trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như trước khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì ông H không có yêu cầu gì về việc chia tài sản chung. Tại phiên tòa hôm nay, ông H yêu cầu chia tài sản chung nhưng ông cũng không trình bày được tài sản chung ông yêu cầu chia gồm những tài sản gì.

Mặt khác, yêu cầu của ông H cũng chưa được đóng tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Điều 25 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết yêu cầu này của ông H tại phiên tòa. Ông H có quyền tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung giữa ông và bà Đ bằng một vụ kiện khác.

[2.4] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Ngô Văn H đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị Đ phải chịu theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ đối với bị đơn ông Ngô Văn H, cụ thể tuyên:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Ngô Văn H.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Ngô Văn H có 2 con chung là:

Ngô Thanh P, sinh ngày 16/3/1993; Ngô Thành N, sinh ngày 04/7/1994. Hiện các con chung đều đã trưởng thành, có thể tự lo cho bản thân; cả bà Đ và ông H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Đ không có yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án này; còn ông Ngô Văn H tại phiên tòa tuy có yêu cầu chia tài sản chung nhưng không xác định được tài sản chung gồm những tài sản gì và yêu cầu của ông H đưa ra sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như sau khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử và chưa đóng tạm ứng án phí nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà Nguyễn Thị Đ và ông Ngô Văn H có quyền tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn bằng một vụ kiện khác.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Ngô Văn H đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Thị Đ phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0005654 ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre. Bà Đ đã nộp xong tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.


60
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 154/2019/HNGĐ-ST ngày 03/12/2019 về ly hôn

Số hiệu:154/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:03/12/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về