Bản án 15/2018/HSST ngày 09/02/2018 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 15/2018/HSST NGÀY 09/02/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 09 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2018/TLSTHS ngày 05 tháng 01 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Văn Tr sinh năm 1997, tại huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm Tr, thôn Nh, xã Kh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K và bà Phạm Thị Ng; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình từ ngày 15/9/2017 cho đến nay. (có mặt)

Bị hại: Anh Phạm Nguyễn Việt A sinh năm 1977; nơi cư trú: Số nhà N, đường H, phố Lê L, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Hoàng Khắc V sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

+ Anh Bùi Văn Ch sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: Khu B, thị trấn T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: 2/20/54, đường Ng, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. (vắng mặt)

+ Anh Phạm Minh Đ sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã Kh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Số nhà 258, đường BM phố Ph, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)

+ Anh Phạm Ngọc Th sinh năm 1972; nơi cư trú: Số nhà H, ngõ B, phố Ph, phường Ph, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

- Người làm chứng:

+ Anh Đặng Minh H sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn H, xã Ph, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Phố M, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

+ Anh Trịnh Đức Ch1 sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Ph, xã Kh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Thái D sinh năm 1984; nơi cư trú: Số nhà H, đường Tr, phố N, phường Đ, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

+ Anh Lê Anh T sinh năm 1985; nơi cư trú: Số nhà H, đường Tr, phường V, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Hải S sinh năm 1974; nơi cứ trú: Số nhà MK, đường Tr, phường Ph, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

+ Anh Đặng Khánh Th sinh năm 1977; nơi cư trú: phố H, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn Tr sinh năm 1997, trú tại xã Kh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; Bùi Văn Ch sinh năm 1992, trú tại Khu B, thị trấn T, huyện Tiên Lãng, TP.Hải Phòng; Đặng Minh H sinh năm 1998, trú tại Thôn H, xã Ph, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Trịnh Đức Ch sinh năm 1993, trú tại xã Kh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; Hoàng Khắc Vương sinh năm 1989, trú tại thôn B, xã N, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình và Phạm Minh Đ sinh năm 1984, trú tại xã Kh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình là bạn bè và cùng thuê trọ tại Số nhà 258, đường BM phố Ph, phường N, thành phố Ninh Bình. Tối ngày 10/9/2017, Tr, Ch, H, Ch1 và một người tên là Liện không rõ địa chỉ đến quán Karaoke Dũng Nguyễn thuộc phố Phúc Nam, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình hát Karaoke. Cùng thời điểm có nhóm của anh Phạm Nguyễn Việt A, Nguyễn Hải S, Phạm Ngọc Th cũng hát tại quán Karaoke Dũng Nguyễn. Khoảng 23h15’ cùng ngày, anh Ch1 ra khỏi phòng hát đi xuống dưới sân và ngồi lên chiếc xe mô tô Dream BKS 35B1 – 576.77 của Phạm Ngọc Th để nghe điện thoại. Khi Th xuống sân lấy xe thì thấy Ch1 đang ngồi trên xe của mình nghe điện thoại, nên đi đến dùng tay trái vỗ vào phía sau lưng và đẩy Ch1 xuống xe. Do bất ngờ bị đánh, Ch1 và Th xảy ra xô sát; Ch1 dùng chân phải đạp vào mông của Th thì Nguyễn Hải S, Phạm Nguyễn Việt A cùng mọi người can ngăn hai bên. Thấy ồn ào, H từ trong phòng khách của quán đi ra, Ch nhìn thấy H liền chỉ tay vào Th nói “Anh đang ngồi đây tự dưng nó vào đấm anh” và lao đến đạp vào người Th. Thấy vậy, H từ trên bậc lên xuống cửa ra vào nhảy xuống đấm vào má phải và mắt trái của Th. Thấy H đánh Th thì S đến can cũng bị H đấm vào má trái. Khi được khách và bảo vệ của quán can ngăn thì H, Ch1, Ch, Tr và Liện lên xe taxi đi về Số nhà 258, đường BM phố Ph, phường N, thành phố Ninh Bình. Khi nhóm của Tr lên taxi đi thì anh S cũng lấy xe máy đuổi theo, Việt A thấy vậy cũng lên xe đi theo S nhưng không đuổi kịp, nên đã gọi điện thoại cho Nguyễn Thái D là em trai S đến để đi tìm S. Sau khi nghe điện thoại, D gọi cho Lê Anh T cũng là bạn chơi với nhóm của S và rủ T đi tìm S. Sau đó, D đi xe mô tô đến đón T ra quán Dũng Nguyễn và cùng Th đi trên hai xe mô tô để đi tìm S. Khi S đuổi theo xe ô tô taxi của nhóm Tr đến gần ngã 4 sân vận động Anh Khoa thì bị phát hiện, nhóm Tr dừng xe và chạy bộ về phía S thì S quay đầu xe bỏ chạy. Do không đuổi được S nên cả nhóm lại lên xe đi tiếp, S quay lại và tiếp tục đi theo sau xe của nhóm Tr. Quá trình đi trên taxi Ch1 gọi điện cho Đ, Tr điện thoại cho V nói về việc vừa đánh nhau tại quán hát nên có người bám theo về và hẹn nhau đến nhà Đ. Khi về đến nhà số 258, Ch nói với Đ có người đuổi theo xe Taxi; Đ nói với Ch “lên xe ne nó về đây” và lấy xe ô tô BKS 51A-857.45 nổ máy, Ch chạy vào gầm cầu thang tầng 1 lấy 1 dao quắm bằng kim loại dài 54cm bản rộng 5cm mang lên ghế bên phụ của xe ngồi. Đ điều khiển xe chạy ngược lại đường mà nhóm Ch1 vừa đi về để tìm người vừa đuổi theo. Lúc Đ và Ch nói chuyện với nhau thì Ch1, V cũng có mặt, nghe Đ nói đi tìm nhóm người đã xảy ra mâu thuẫn với Ch1, thì V chạy vào trong tầng 1 lấy 01 bao bên trong có dao, phóng lợn mang ra để ở trước cửa tầng 1 và cầm theo 01 phóng lợn dài 95cm, cán phi 22 quấn dây chun màu xanh đen, nhảy lên xe do Ch điều khiển để đi theo xe Đ. Còn Tr khi chạy lên tầng 3 lấy 1 thanh kiếm bằng kim loại dài 69.5cm xuống thì Đ, Ch, Ch1 và V đã đi, nên Tr cầm kiếm đi bộ ra ngoài đường tìm đánh nhóm người đã gây sự với Ch1; còn H lên tầng 2 ngủ; Liện không đi theo mà ngồi ngoài phòng khách. Khi Đ điều khiển xe ô tô đến gần cổng phụ phía Tây Bệnh viện sản nhi đang xây thuộc phố Bạch Đằng, phường Nam Thành thì phát hiện thấy xe của S, Đ điều khiển cho đầu xe ô tô đâm dí vào phía sau xe máy của S 02 lần, S tăng tốc rẽ vào khu vực nhà đang xây gần đó chạy thoát. Không đuổi được S, Đ điều khiển xe quay về. Ch1 và V điều khiển xe máy đi sau, khi đến gần khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình thì gặp tổ tuần tra của công an nên cũng quay về. Khi đi qua cây xăng Hàng không cách nhà Đ khoảng 30m, V nhìn thấy nhóm Việt A đang ngồi trên xe mô tô nói chuyện. Khi về đến nhà Đ, V nói với cả hội là thấy một nhóm đang đứng ở khu vực cây xăng thì Đ, V, Ch chạy lại gần nhóm thanh niên trên để xem là ai thì nhóm Việt A quay xe chạy về hướng chợ Nam Thành. Thấy vậy, Đ nói với Ch và V lên xe đi tìm để đánh bắt phải xin lỗi, cả hội đồng ý. Liện lái xe ô tô, Đ không mang theo hung khí gì ngồi ở ghế phụ; Ch cầm dao quắm ngồi ghế sau; V cầm 01 phóng lợn dài khoảng 1,2m ngồi bên phải ghế sau; riêng Ch1 không đi cùng mà lấy xe đi về nhà ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Liện điều khiển xe ô tô chở Đ, Ch, V đi đến gần chợ Nam Thành thì gặp Tr đang cầm kiếm đi bộ, Đ bảo Tr lên xe, Tr lên ngồi ghế bên trái phía sau. Quá trình đi tìm nhóm Việt A, Đ quay lại nói với cả nhóm là chỉ tìm nhóm trên bắt xin lỗi không được đánh. Phạm Nguyễn Việt A cùng Th, D và T sau khi đi từ khu vực cây xăng Hàng không đến trước cổng phụ phía Tây Bệnh viện sản nhi đang xây dựng thì dừng lại bên lề đường để nói chuyện. Liện điều khiển xe ô tô đi đến, phát hiện thấy nhóm của anh Việt A, Tr nói “hình như chúng nó kia kìa”, Liện điều khiển xe đến gần khu vực nhóm Việt A đứng và dừng lại. Tr, Đ, V, Ch xuống xe, Đ không cầm gì đứng bên hông xe còn Tr cầm kiếm, V cầm phóng, Ch cầm dao quắm cùng chạy đến chỗ nhóm Việt A đang đứng. Thấy nhóm người cầm hung khí lao đến thì Th, T, Việt A và D để lại xe mô tô và bỏ chạy. Tr cầm kiếm chạy đuổi theo chém 1 nhát sượt lưng Th; sau đó, tiếp tục cầm kiếm đuổi theo Việt A, Tr cầm kiếm ở tay phải chém 1 nhát từ trên xuống hơi chếch trúng vào khuỷu tay trái Việt A làm cho Việt A bị gãy đầu trên xương trụ trái, gãy đầu dưới xương cánh tay trái và chảy máu. Anh Th sau khi bị Tr chém đã bị V đuổi kịp và dùng cán phóng lợn vụt vào lưng hai phát. Khi anh T bỏ chạy thì quay lại nhìn và nhận ra Đ đang đứng cạnh xe là người quen, liền gọi “Đ trọc”; Đ nghe thấy tiếng người quen thì bảo V, Tr và Ch dừng lại sau đó cả nhóm lên xe ô tô đi về. Sau khi bị Tr chém, anh Việt A được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình từ ngày 11/9/2017 đến ngày 21/9/2017 ra viện. Ngày 11/9/2017 anh Việt A có đơn đề nghị xử lý hình sự và xin giám định thương tích. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 066/2017/Th-GĐPY ngày 12/9/2017 Trung tâm pháp y Sở y tế Ninh Bình kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại cho Phạm Nguyễn Việt A là 14%.

Ngày 11/9/2107, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình tiến hành kiểm tra hộ khẩu tại Số nhà 258, đường BM phố Ph, phường N, thành phố Ninh Bình là nơi ở của Tr, Ch, H, Đ và Ch1; quá trình kiểm tra phát hiện, thu giữ: Tại gầm cầu thang tầng 1: 04 dao quắm; 08 phóng lợn; 02 đao tự chế; 02 dao nhọn; 02 dao gấp. Thu tại tum tầng 3: 01 phóng dài 95cm, cán phi 22 quấn dây chun màu xanh đen và một thanh kiếm dài 69.5cm trên thanh kiếm có dị vật mầu nâu. V, Tr xác nhận phóng và thanh kiếm là của V và Tr đã sử dụng đuổi đánh nhau.

Thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET – BKS: 51A – 857.45 màu xám, kiểm tra phương tiện phát hiện 01 dao quắm bằng kim loại dài 45cm bản rộng   5cm là dao quắm Ch cầm theo khi đuổi đánh nhau.

Tiến hành thu mẫu dị vật màu nâu trên thanh kiếm ký hiệu M1 và thu mẫu máu từ người anh Phạm Nguyễn Việt A ký hiệu M2 gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 4735/C54(TT3) ngày 15/11/2017 Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận: Dấu vết nghi máu thu giữ trên thanh kiếm tại nơi ở của đối tượng (ký hiệu M1) là máu người và là máu của anh Phạm Nguyễn Việt A. Quá trình điều tra Bùi Văn Tr đã tác động để gia đình bồi thường cho anh Phạm Nguyễn Việt A 20.000.000 đồng. Anh Việt A đã nhận đủ tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Bùi Văn Tr.

Trong vụ án này Bùi Văn Ch, Hoàng Khắc V và Phạm Minh Đ là những người đã đi cùng với Bùi Văn Tr tìm, đuổi đánh nhóm anh Việt A, nhưng việc Tr dùng kiếm gây thương tích cho anh Việt A, Tr không bàn bạc với Ch, V và Đ, thương tích của anh Việt A là do Tr tự ý gây ra do đó không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Ch, V và Đ.

Anh Phạm Văn Th đã bị Ch, H dùng tay, chân đánh và bị Tr dùng kiếm chém sượt vào lưng; V dùng chuôi phóng lợn vụt vào người nhưng thương tích nhẹ; anh S bị H dùng tay đánh và bị Đ dùng xe ô tô dí, đâm vào xe mô tô nhưng không bị thương tích và xe mô tô bị hư hỏng nhẹ nên anh Th và anh S không yêu cầu đề nghị xử lý hình sự đối với Ch1, H, Tr, Đ và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Công an thành phố Ninh Bình đã xử phạt hành chính 2.500.000đ đối với Đặng Minh H, Trịnh Đức Ch1 và Hoàng Khắc V về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.

Quá trình điều tra thu giữ tại số nhà 258, đường BM phố Ph, phường N, thành phố Ninh Bình là nơi Phạm Minh Đ đứng ra thuê trọ 04 dao quắm; 08 phóng lợn; 02 đao tự chế; 02 dao nhọn; 02 dao gấp, Đ không biết của ai đã để tại đây từ trước; Bùi Văn Ch quá trình đuổi đánh cũng cầm theo 01 dao quắm nhưng Đ và Ch chưa gây thương tích cho ai. Công an thành phố Ninh Bình đã xử phạt hành chính 2.500.000đ đối với Đ và Ch về hành vi tàng trữ vũ khí nhằm mục đích gây thương tích cho người khác và tịch thu tiêu hủy 04 dao quắm; 08 phóng lợn; 02 đao tự chế; 02 dao nhọn; 02 dao gấp đã thu giữ.

Đối với người có tên là Liện, đã chở các đối tượng đi tìm nhóm anh Việt A để đánh, qua điều tra xác định là người Đ quen trên Hà Nội, Đ không biết địa chỉ cụ thể của  Liện, do  đó  không  có căn cứ  để điều  tra xác minh.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET – BKS: 51A – 857.45.

Quá trình điều tra xác định là xe của Công ty cổ phần H, địa chỉ: số nhà 458b, đường Ng, phường MT, Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của công ty là anh Đặng Khánh Th, trú tại phố H, phường N, thành phố Ninh Bình đã giao chiếc xe trên cho Nguyễn Minh Đ để làm phương tiện đi làm. Ngày 10/9/2017 anh Th không biết việc Đ sử dụng xe để đi đánh nhau nên không vi phạm. Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe trên cho anh Đặng Khánh Th là người được công ty cổ phần H ủy quyền.

Đối với 01 phóng dài 95cm cán phi 22 quấn dây chun màu xanh đen, một thanh kiếm dài 69.5cm và 01 dao quắm bằng kim loại dài 45cm bản rộng 5cm là hung khí các đối tượng dùng đuổi đánh nhau ngày 10/9/2017, cùng mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 04/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Bùi Văn Tr ra trước Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về Tội cố ý gây thương tích, theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Tr phạm Tội cố ý gây thương tích.

- Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Bùi Văn Tr từ 24 - 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2017.

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phóng dài 95cm cán phi 22 quấn dây chun màu xanh đen; một thanh kiếm dài 69.5cm; 01 dao quắm bằng kim loại dài 45cm bản rộng 5cm và mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại gồm: Dấu vết máu thu trên thanh kiếm (ký hiệu M1), mẫu máu thu của Phạm Nguyễn Việt A.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn Tr đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là tội lỗi, xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai tại phiên toà của bị cáo Bùi Văn Tr đúng như nội dung của bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, hồ sơ bệnh án, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của người bị hại và Kết luận giám định của Viện khoa học hình sự. Từ những chứng cứ nêu trên, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 00h20’ ngày 11/9/2017, tại khu vực cổng phía Tây Bệnh viện sản nhi Ninh Bình thuộc phố Bạch Đằng, phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình, Bùi Văn Tr đã có hành vi dùng Kiếm chém vào khủy tay trái anh Phạm Nguyễn Việt A. Hậu quả anh Phạm Nguyễn Việt A bị gãy đầu trên xương trụ, gãy đầu dưới xương cánh tay trái và vết thương phần mềm khuỷu tay trái; tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích nêu trên gây nên cho anh Việt A là 14%.

[2] Hành vi của bị cáo xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khoẻ của người khác, một khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc cầm Kiếm chém vào người khác là rất nguy hiểm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[3] Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi dùng Kiếm là hung khí nguy hiểm, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự, chém và gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể 14% cho anh Việt A của bị cáo Bùi Văn Tr đã phạm Tội cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, mà còn gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. Để có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại; do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngoài ra, người bị hại Phạm Nguyễn Việt A có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo là hộ cận nghèo, bố bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo; do đó, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

[6] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.

[7] Theo khoản 2 Điều 134, Tội cố ý gây thương tích được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức hình phạt tù nhẹ hơn so với mức hình phạt tù được quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999; tại thời điểm xét xử, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành, để thực hiện chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội, cần áp dụng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[8] Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo Bùi Văn Tr một mức hình phạt thoả đáng, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phóng dài 95cm cán phi 22 quấn dây chun màu xanh đen; một thanh kiếm dài 69.5cm; 01 dao quắm bằng kim loại dài 45cm bản rộng 5cm là những hung khí nguy hiểm bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng để đánh nhau và mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại gồm: Dấu vết máu thu trên thanh kiếm (ký hiệu M1), mẫu máu thu của Phạm Nguyễn Việt A, hiện nay đều không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 06/11/2017 bà Phạm Thị Ng là mẹ đẻ của bị cáo Tr đã bồi thường thiệt hại cho anh Phạm Nguyễn Việt A 20.000.000 đồng. Anh Việt A đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu đề nghị gì khác. Phần bồi thường thiệt hại đã được hai bên tự giải quyết xong; vì vậy, không đặt ra xem xét gải quyết trong bản án này.

[11] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Tr phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[13] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng thẩm quyền, đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Tr phạm Tội cố ý gây thương tích.

2. Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Bùi Văn Tr 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2017.

3 .Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phóng dài 95cm cán phi 22 quấn dây chun màu xanh đen; một thanh kiếm dài 69.5cm; 01 dao quắm bằng kim loại dài 45cm bản rộng 5cm và mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại: Gồm dấu vết máu thu trên thanh kiếm (ký hiệu M1), mẫu máu thu của Phạm Nguyễn Việt A.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2018 giữa Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Văn Tr phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo của người có mặt tại phiên toà tính từ ngày tuyên án (09/02/2018), thời hạn kháng cáo của người vắng mặt tại phiên toà tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


100
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về