Bản án 114/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 114/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ 48 đường L, TP. Đà Nẵng), đã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 127/2017/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Xuân M. Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 19/05/1995, tại: Tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn M, xã L, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Sinh viên Trường Đại học N; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; tiền án, tiền sự: Chưa

Con ông Nguyễn Xuân A (Sinh năm 1971) và bà Nguyên Thi Thu T (Sinh năm 1972) đều còn sống; gia đinh co 03 chị em, bị cáo la con thư hai. Bi cáo bi tạm giam tư ngay 04/5/2017. Có mặt.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Đình B sinh năm 1995; trú tại: thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

1/ Em Phạm Thành L - sinh năm 1994; trú tại: Thôn 3 xã G, huyện M, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

2/ Em Nguyễn Tấn L - sinh năm 1996; trú tại: Tổ 48 phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

3/ Em Lê Công H - sinh năm 1996; trú tại: K126 đường K, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

4/ Em Đặng Viết Q - sinh năm 1996; trú tại: Tổ 3 thôn T, xã Q, huyện B, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

5/ Em Nguyễn Hữu K - sinh năm 1996; trú tại: K126/11 đường K, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

6/ Em Huỳnh Anh K - sinh năm 1994; trú tại: số 136 đường K, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

7/ Em Nguyễn Đình N - sinh năm 1996; trú tại: K74/4 đường K, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

8/ Em Lê Trọng N - sinh năm 1996; trú tại: K74/4 đường K, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

9/ Em Phan Văn H - sinh năm 1995; trú tại: K58/3 đường K, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 03/5/2017, Nguyễn Xuân M, Nguyễn Đình B, Nguyễn Hữu K, Phạm Thành L, Lê Công H, Phan Văn H và Huỳnh Anh K cùng ngồi ăn uống tại quán C trên đường T, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, cả nhóm rủ nhau đi ăn tại quán hủ tiếu đối diện Trường Cao đẳng N. Tại đây, Đặng Viết Q (là bạn của B) đang ngồi ăn nên B gọi điện thoại rủ thêm Nguyễn Tấn L đến ngồi ăn chung rồi cả nhóm ra chỗ dựng xe phía trước quán nói chuyện. Do trong lúc ngồi ăn, H nghĩ L muốn gây sự với mình nên H đi đến chỗ L ngồi rồi dùng tay đánh L một cái trúng vào mặt nhưng không gây ra thương tích gì, thấy vậy B chạy đến đánh H một cái trúng mặt thì H bỏ chạy. Lúc đó, M chạy tới can ngăn thì B tiếp tục đánh M một cái trúng mặt nhưng không gây ra thương tích gì nên M và B cãi vả lớn tiếng với nhau. Sau đó, B, L, L, H và Q chạy trên 03 xe mô tô đi tìm H còn M cùng với Hữu K và Anh K đi về phòng trọ của M tại K74/11 đường K, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng.

Đến khoảng 0h05’ngày 04/5/2017, sau khi tìm H nhưng không thấy, B, L, L, H và Q đến phòng trọ của Hữu K tại K126/11 đường K, thành phố Đà Nẵng để tìm Hữu K hỏi chỗ trọ của H. Do không thấy Hữu K nên B gọi điện thoại cho Hữu K hỏi đang ở đâu thì Hữu K nói đang đứng ở trước trường Cao đẳng N. Lúc này, M đứng gần Hữu K nghe được, cho rằng B hỏi để tìm đến đánh mình nên M chạy vào phòng trọ lấy 02 con dao cầm trên tay trái kẹp sát thân người rồi đi bộ ra trước dãy nhà trọ. Khi B và Q chạy xe đến trước thì Hữu K và Anh K đang đứng ở đầu kiệt 74 đường K, thành phố Đà Nẵng. B xuống xe đi vào trong kiệt còn Q và L dựng xe đứng ở ngoài. Khi B đi vào gặp M, M nói: “Lúc nãy làm gì mà đánh tao?” rồi B và M xảy ra xô xát thì Nguyễn Đình N và Lê Trọng N là bạn cùng phòng trọ với M chạy ra, khi đó H và L định chạy đến chỗ B và M thì bị N và N chạy tới ngăn cản lại. Lúc này, B đứng bên trái M dùng tay phải kẹp phía sau cổ và ghì M xuống, sẵn có 02 con dao xếp chồng lên nhau cầm ở tay trái, M đâm một nhát trúng vào vùng bụng của B gây thương tích. B ôm bụng bỏ chạy và hô to: “Thằng M đâm ta rồi” thì L chạy lại dìu B ra xe để Q chở đi cấp cứu, H, L và L chạy xe theo sau. Sau đó, M về phòng trọ cất 02 con dao rồi điều khiển xe máy chạy về thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong đêm.

Đến khoảng 8 giờ ngày 04/5/2017, Nguyễn Xuân M đến Công an phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng đầu thú, khai nhận hành vi của mình và giao nộp 02 con dao dùng để gây án.

Vât chứng thu giư: 01 con dao cán gỗ dài 29cm (cán dài 12cm, lưỡi dài 17cm); 01 con dao cán nhựa dài 33cm (cán dài 13cm, lưỡi dài 20cm).

Tại bản kết luân giám định phap y về thương tích số 249/TgT ngày 28/7/2017 của Trung tâm pháp y thành phố Đà Nẵng kết luận thương tích của Nguyễn Đình B như sau:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương thấu bụng: Thủng rách gan hạ phân thùy V gây tràn máu khoang ổ bụng, đã được phẫu thuật mở ổ bụng khâu vết thương gan, dẫn lưu. Hiện tại tổn thương bên ngoài đã lành sẹo, bụng mềm, không chướng, không có phản ứng thành bụng, nạn nhân ăn uống được, đường tiêu hóa thông. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 37% (Ba mươi bảy phần trăm)”.

Tại bản kết luân giám định phap y về hung khi số 03/HK ngày 31/7/2017 của Trung tâm pháp y thành phố Đà Nẵng kết luận:

“- Hạ sườn phải có hai vết thương nằm song song cách nhau 02cm đã lành sẹo phẳng, màu hồng nhạt, mềm, di động, kích thước vết trên: 1,5cm x 0,2cm và kích thước vết dưới: 02cm x 0,2cm phù hợp với vật sắc nhọn gây ra.

- Hai con dao mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng gửi đến giám định là vật sắc nhọn, tổn thương trên phù hợp với mẫu vật gửi đến giám định gây nên.

* Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân M thừa nhận hành vi phạm tội của mình là cố ý gây thương tích, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đưa xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật là đúng tội, đúng pháp luật.

* Tại bản cáo trạng số: 120/CT-VKS ngày 12/09/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân M về tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghi quyết số 41 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và điểm c khoan 3 Điều 134 Bộ luật Hinh sư năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2014/QH14 của Quốc hôi; khoản 3 Điều 7 và điểm c khoan 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b, p, đ khoản 1, 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân M từ 03-04 năm tù

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên tịch thu tiêu hủy 02 cây dao trên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Vì một phút nông nổi nên bị cáo không kiềm chế được bản thân đã gây thương tích cho anh B, bị cáo biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét để xét xử bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời;

“Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:”

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 23 giờ ngày 03/5/2017 Nguyễn Xuân M, Nguyễn Đình B, Nguyễn Hữu K, Phạm Thành L, Lê Công H, Phan Văn H và Huỳnh Anh K ngồi ăn hủ tiếu tại quán hủ tiếu đối diện trường Cao đẳng N. Tại đây, Đặng Viết Q (là bạn của B) đang ngồi ăn nên B gọi điện thoại rủ thêm Nguyễn Tấn L đến ngồi ăn chung rồi cả nhóm ra chỗ dựng xe phía trước quán nói chuyện. Do trong lúc ngồi ăn, H nghĩ L muốn gây sự với mình nên H đi đến chỗ L ngồi rồi dùng tay đánh L một cái trúng vào mặt nhưng không gây ra thương tích gì, thấy vậy B chạy đến đánh H một cái trúng mặt thì H bỏ chạy. Lúc đó, M chạy tới can ngăn thì B tiếp tục đánh M một cái trúng mặt M. Sau đó, B, L, L, H và Q chạy trên 03 xe mô tô đi tìm H còn M cùng với Hữu K và Anh K đi về phòng trọ của M tại K74/11 đường K, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Do không thấy Hữu K nên B gọi điện thoại cho Hữu K hỏi đang ở đâu thì Hữu K nói đang đứng ở trước trường Cao đẳng N. Lúc này, M đứng gần Hữu K nghe được, cho rằng B hỏi để tìm đến đánh mình nên M chạy vào phòng trọ lấy 02 con dao cầm trên tay trái kẹp sát thân người rồi đi bộ ra trước dãy nhà trọ. Khi B và Q chạy xe đến trước thì Hữu K và Anh K đang đứng ở đầu kiệt 74 đường K, thành phố Đà Nẵng. B xuống xe đi vào trong kiệt còn Q và L dựng xe đứng ở ngoài, B đi vào gặp M, M nói: “Lúc nãy làm gì mà đánh tao?” rồi B xông vào dùng tay phải kẹp phía sau cổ và ghì M xuống đánh M 02 cái. Lúc này, sẵn có 02 con dao xếp chồng lên nhau cầm ở tay trái, M đâm một nhát trúng vào vùng bụng của B gây thương tích cho anh B. Tại bản kết luân giám định phap y về thương tích số 249/TgT ngày 28/7/2017 của Trung tâm pháp y thành phố Đà Nẵng kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 37%. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Xuân M đã phạm vào tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 BLHS.

Xét bị cáo đã sử dụng dao là “dùng hung khí nguy hiểm” gây thương tích cho người bị hại 37% là đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân M là rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân.

- Về nhân thân: Căn cứ vào trích lục tiền án, tiền sự của Phòng hồ sơ Công an thành phố Đà Nẵng và Lý lịch bị cáo thể hiện bị cáo Nguyễn Xuân M chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 BLHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay, cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, mặc dù hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn nhưng sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ tiền chi phí thuốc men và tiền bồi dưỡng sức khỏe theo yêu cầu của người bị hại với số tiền là 60 triệu đồng cho bị người hại, điều đó thể hiện sự biết ăn năn hối cải của bị cáo.

Trong vụ án này, người bị hại cũng có một phần lỗi là vô cớ đánh bị cáo trước và sau đó tiếp tục rủ bạn bè kéo đến phòng trọ của bị cáo để tìm H (bạn bị cáo) để đánh, khi đến không gặp H thấy bị cáo đang trong kiệt đi ra thì B đã gây sự và xông vào kẹp cổ ghì bị cáo xuống đất và dùng tay đánh vào người bị cáo 02 cái, do không kiềm chế được bản thân và có sẵn 02 con dao trong người nên bị cáo đã đâm vào bụng gây thương tích cho người cho B, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo là sinh viên, có nhân thân tốt, luôn gương mẫu tham gia các phong trào thể dục thể thao cho xã L và được tặng thưởng nhiều giấy khen góp phần phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục thể thao cho xã, bị cáo có công phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng sống đơn côi tại xã. Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại anh Nguyễn Đình B cũng thừa nhận do hành vi trái pháp luật của mình đẫn đến bị cáo rơi vào con đường phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm b, p, đ khoản 1, 2 Điều 46 BLHS. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS nên HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS để xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt cũng đủ tác dụng đối với bị cáo và đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

- Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ của Nguyễn Xuân M 02 con dao gồm: 01 con dao cán gỗ dài 29cm (cán dài 12cm, lưỡi dài 17cm); 01 con dao cán nhựa dài 33cm (cán dài 13cm, lưỡi dài 20cm). Đây là hung khí mà bị cáo dùng để gây án nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành  phố Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao nhân vật chứng ngày 13/9/2017).

- Về dân sư: Tại phiên tòa hôm nay, anh B cho rằng về phần trách nhiệm dân sự gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền là 60.000.000đ. Tại phiên tòa hôm nay, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần dân sự. Do đó, HĐXX không xem xét gải quyết.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân M phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời phát biểu đề nghị áp dụng pháp luật và mức hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo Nguyễn Xuân M là có căn cứ pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1/ Áp dụng: Khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghi quyết số 41 cua Quốc hôi; khoan 3 Điều 7 va điểm c khoan 3 Điều 134 Bô luât Hinh sư năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b, p, đ khoản 1, 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân M 30 (Ba mươi) tháng tù, thời gian thụ hình tính từ ngày 04/5/2017.

2/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tuyên: tịch thu tiêu hủy 02 con dao gồm: 01 con dao cán gỗ dài 29cm (cán dài 12cm, lưỡi dài 17cm); 01 con dao cán nhựa dài 33cm (cán dài 13cm, lưỡi dài 20cm)

(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao nhân vật chứng ngày 13/9/2017).

3/ Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Án xử công khai, bị cáo, người bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


220
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về