Bản án 15/2018/DS-ST ngày 19/03/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 15/2018/DS-ST NGÀY 19/03/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN

Ngày 19 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:158/2017/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:07/2018/QĐXX-ST ngày 06 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Ông Đoàn Chí C, sinh năm 1974;

Bà Phạm Thị Thu L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

(Tại phiên tòa có mặt bà N; vắng mặt ông C, bà L)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N trình bày:

Năm 2009, bà có bán vật tư xây dựng cho vợ chồng ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L nhiều lần với số tiền mua hàng tổng cộng là 3.670.000đồng. Khi ông C, bà L mua hàng bà có ghi hóa đơn mua hàng thể hiện rõ số lượng vật tư xây dựng mua bán, đơn giá và tính thành tiền số tiền mua hàng tổng cộng là 3.670.000đồng, ông C bà L chỉ thanh toán số tiền 870.000đồng, còn nợ lại 2.800.000đồng. Bà đã nhiều lần đến nhà ông C, bà L yêu cầu trả nợ nhưng ông C bà L cố tình lẫn tránh không trả nợ cho bà.

Nay bà yêu cầu ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L trả cho bà số tiền mua vật tư xây dựng là 2.800.000đồng và yêu cầu trả số tiền lãi tính từ tháng 12 năm 2010 đến nay là 87 tháng theo mức lãi suất cơ bản của ngân hàng là 0,75%/tháng thành tiền là 1.827.000đồng (2.800.000đồng/tháng x 0,75% x 87 tháng), tổng cộng tiền vốn và lãi là 4.627.000đồng, yêu cầu trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L nhiều lần nhưng ông C, bà L vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với  ông Đoàn Chi C, bà Phạm Thị Thu L, bà yêu cầu
ông C, bà L trả số tiền mua vật tư xây dựng và số tiền lãi là 4.627.000đồng, yêu cầu trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ lời trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Mỹ N yêu cầu ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L trả cho bà số tiền mua vật tư xây dựng chưa thanh toán; thời điểm phát sinh, thực hiện giao dịch mua bán là năm 2009. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2005 và bị đơn ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L có nơi cư trú tại ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ N yêu cầu ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L trả số tiền mua vật tư xây dựng chưa thanh toán là 2.800.000đồng. Quá trình mua bán bà N có lập hóa đơn mua hàng ghi rõ số lượng hàng và số tiền mua hàng. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định việc mua bán vật tư xây dựng giữa bà N với ông C, bà L là có thật. Xét thấy việc bà N đã giao đủ số lượng vật tư xây dựng nhưng ông C, bà L chưa thanh toán số tiền mua hàng 2.800.000đồng theo hóa đơn mua hàng đề ngày  02/3/2009 là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại khoản 1 Điều 438 Bộ luật dân sự năm 2005. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nói rõ các chứng cứ nguyên đơn làm căn cứ khởi kiện cho ông C, bà L được biết và có văn bản nêu rõ ý kiến của mình nhưng ông C, bà L không có ý kiến. Do vậy ông C, bà L phải chịu hậu quả pháp lý của việc không có ý kiến theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 428, khoản 1 Điều 438 Bộ luật dân sự năm 2005, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Mỹ N.

[4] Về yêu cầu trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ N yêu cầu ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất 0,75%/tháng, tính từ tháng 12 năm 2010 đến thời điểm xét xử sơ thẩm tháng 3/2018 là 87 tháng thành tiền là 1.827.000đồng. Xét thấy ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 438 và khoản 2 Điều 305 Bộ Luật dân sự năm 2005. Thời điểm ông C, bà L vi phạm nghĩa vụ trả tiền là tháng 12/2010 nên áp dụng mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm năm 2010 theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là 9%/năm (0,75%/ tháng).

Bà N yêu cầu trả lãi với mức lãi suất 0,75%/tháng là phù hợp mức lãi suất theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, buộc ông C, bà L phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo mức lãi suất là 0,75%/tháng tính từ thời điểm ông C, bà L vi phạm nghĩa vụ trả tiền mua hàng là tháng 12/2010 đến ngày Tòa án xét xử là 19/3/2018 là 87 tháng, thành tiền là 1.827.000đồng (2.800.000đồng x 0,75% x 87 tháng). Ngoài ra, kể từ ngày bà Nguyễn Thị Mỹ N có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì ông C, bà L còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

[5] Về phương thức trả nợ, thời điểm trả nợ: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N xác định bà yêu cầu ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L trả một lần toàn bộ số tiền mua vật tư xây dựng còn nợ là 2.800.000đồng và số tiền lãi là 1.827.000đồng, tổng cộng là 4.627.000đồng, yêu cầu trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L đã vi phạm hợp đồng mua bán, nghĩa vụ trả tiền của bên mua theo quy định tại Điều 428, Điều 438 Bộ luật dân sự năm 2005 và bà N đã nhiều lần yêu cầu ông C, bà L trả tiền nhưng ông C, bà L không trả làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N nên việc bà N yêu cầu ông C, bà L trả một lần toàn bộ số tiền còn nợ khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L phải chịu án phí trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Mỹ N, ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điều 428, Điều 438 và khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ N.

- Buộc ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ N số tiền mua vật tư xây dựng là 4.627.000đồng (Bốn triệu sáu trăm hai mươi bảy ngàn đồng). Trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Mỹ N có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L chậm thi hành việc trả tiền thì ông C, bà L còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà Nguyễn Thị Mỹ N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Mỹ N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 18858 ngày 09/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

- Bà Nguyễn Thị Mỹ N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Ông Đoàn Chí C, bà Phạm Thị Thu L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
 
Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


66
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về