Bản án 149/2018/HSST ngày 17/05/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 149/2018/HSST NGÀY 17/05/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2018/TLST- HS ngày 23 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2018/QĐ-HSST ngày 07-5-2018 đối với bị cáo:

Trần Đình D - sinh năm 1978 tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Tổ 13 thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đình C và bà Nguyễn Thị C; Có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-02-2018 (có mặt).

Người làm chứng: anh Phạm Danh T, ông Nguyễn Văn C

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 07-02-2018, Tổ công tác công an xã Nam Vâncùng đội xây dựng phong trào và phụ trách xã Công an thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường Vũ Hữu Lợi - Lê Đức Thọ, xã Nam Vân, thành phố Nam Định phát hiện Trần Đình D điều khiển xe máy có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, thu giữ trên tay trái của D 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (D khai là gói ma túy đá). Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, đưa D cùng người làm chứng về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của D xe máy biển kiểm soát 18D1-21724, 01 điện thoại di động Mastel và 610.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 166/GĐKTHS ngày 09-02-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine, có khối lượng mẫu 0,179gam.

Tại cơ quan điều tra, Trần Đình D khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và nguồn gốc gói ma túy như sau: Khoảng 21 giờ ngày 07-02- 2018, D mượn xe máy biển kiểm soats 18D1-21724 của em trai là Trần Văn K đi từ nhà đến khu vực đường Song Hào, thành phố Nam Định mua của một nam thanh niên (không rõ lai lịch) 01 túi ma túy với giá 300.000 đồng rồi cầm trên tay trái điều khiển xe về đến khu vực ngã tư đường Vũ Hữu Lợi - Lê Đức Thọ thì bị phát hiện bắt giữ như nêu trên.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Trần Đình D, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18D1-21724, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Văn K.

Bản cáo trạng số 154/CT-VKSTPNĐ ngày 20-4-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Đình D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

 [2] Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 166/GĐKTH ngày 09-02-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 07-02-2018, tại khu vực ngã tư đường Vũ Hữu Lợi - Lê Đức Thọ, xã Nam Vân, thành phố Nam Định, Trần Đình D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,179gam Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

 [3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm kiếm lời bất chính; Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động và số tiền 610.000 đồng là tài sản của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Án phí: Bị cáo Trần Đình D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố Trần Đình D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Trần Đình D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08-02-2018.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 166/GĐKTHS. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và số tiền 610.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23-4-2018)

3. Án phí: Bị cáo Trần Đình D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Đình D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự./.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 149/2018/HSST ngày 17/05/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:149/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về