Bản án 148/2019/HNGĐ-ST ngày 29/08/2019 về hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 148/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/08/2019 VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 29/08/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 07 năm 2019. Về vụ án Kiện xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2019/QĐXXST-DS ngày 02/08/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2019/QĐST-HNGĐ giữa:

+ Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hải Y-sinh năm 1989;

Địa chỉ: Xóm 04, xã Nam Đ, huyện N, tỉnh Nam Định.

+ Bị đơn: Anh Vũ Văn Tr-sinh năm 1985;

Đa chỉ: Xóm 04, xã Nam Đ, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt chị Y vắng mặt anh Tr

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện cũng như lời khai của nguyên đơn là chị Trần Thị Hải Y trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Văn Tr vào tháng 12/2011 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, và do làm ăn kinh tế bị thua lỗ, anh Tr thường xuyên đi làm ăn xa vì vậy vợ chồng xảy ra xô xát đánh chửi nhau, mặc dù được gia đình hai bên khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện do không thể hàn gắn được vợ chồng ly thân nhau từ tháng 7/2018. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Tr là không còn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Văn Tr. Về con chung chị Trần Thị Hải Y xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Trần Hạnh Nguyên sinh ngày 25/10/2012. Kể từ khi vợ chồng ly thân cháu Nguyên đang do chị nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị xin nhận trực tiếp nuôi con chung không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản chung chị Y thống nhất xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm chị Y đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay anh Vũ Văn Tr vắng mặt. Lời khai của anh Tr tại các buổi làm việc cũng như trong đơn xin không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thể hiện: Anh xác định việc chị Y khai về việc kết hôn giữa chị với anh là đúng, vợ chồng được UBND xã Nam Điền cấp đăng ký kết hôn vào năm 2011. Sau khi được cấp đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2018 nguyên nhân là do chị Y cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và nhất quyết muốn ly hôn. Mặc dù được gia đình hai bên khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, vợ chồng ly thân nhau từ tháng 07/2018. Nay chị Y có đơn xin ly hôn quan điểm của anh nhất trí thuận tình ly hôn. Về con chung anh Vũ Văn Tr thống nhất xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Trần Hạnh Nguyên sinh ngày 25/10/2012. Kể từ khi vợ chồng ly thân cháu Nguyên đang do chị Y nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị Y xin nhận trực tiếp nuôi con chung không yêu cầu anh phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, anh cũng nhất trí. Về tài sản chung anh Tr thống nhất xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm anh Tr đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Chị Trần Thị Hải Y và anh Vũ Văn Tr đều đăng ký hộ khẩu và hiện có địa chỉ thường trú tại khu xóm 04 xã Nam Điền, huyện N, tỉnh Nam Định. Chị Y có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện N giải quyết vụ án của anh chị được Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa hôm nay anh Vũ Văn Tr vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án nhân dân huyện N xét xử vắng mặt anh Tr là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị Hải Y và anh Vũ Văn Tr vào tháng 12/2011 được UBND xã Nan Điền cấp đăng ký kết hôn là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và dolàm ăn kinh tế thua lỗ dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát. Mặc dù được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không thành, vợ chồng ly thân nhau từ tháng 7/2018. Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án nhân dân huyện N giải quyết vợ chồng được ly hôn. Anh Tr xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng ly thân từ năm 2018 chị Y xin ly hôn quan điểm của anh cũng nhất trí thuận tình ly hôn. Thấy việc thuận tình ly hôn của chị Y và anh Tr là hoàn toàn tự nguyện không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật chấp nhận là phù hợp.

[3] Về con chung: Về con chung chị Trần Thị Hải Y và anh Vũ Văn Tr đều thống nhất xác định vợ chồng có một con chung là là Vũ Trần Hạnh Nguyên sinh ngày 25/10/2012. Kể từ khi vợ chồng ly thân cháu Nguyên đang do chị Y nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị Y và anh Tr đều thống nhất giao cháu Nguyên cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng và anh Tr không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y. Thấy việc thỏa thuận của chị Y và anh Tr là hoàn toàn tự nguyện không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật vì vậy được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung vợ chồng: Chị Trần Thị Hải Y anh Vũ Văn Tr thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Toà án không đặt ra vấn đề xem giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị Hải Y phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 55, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ các Điều 147, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 6 và 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1-Xử, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Hải Y và anh Vũ Văn Tr.

2-Về con chung: Xử giao cháu là Vũ Trần Hạnh Nguyên sinh ngày 25/10/2012 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh Vũ Văn Tr không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Y. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục và thăm nom con chung.

2-Án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị Hải Y phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Y đã nộp theo biên lai số AA/2017/0000725 ngày 08/07/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N được đối trừ, chị Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành dân sự.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 148/2019/HNGĐ-ST ngày 29/08/2019 về hôn nhân và gia đình

Số hiệu:148/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nam Trực - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về