Bản án 147/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 147/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 75/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2019, về việc: "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị M, Sinh năm: 1976

Nơi cư trú: xóm Hồng Nam, xã Quang Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An - Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Ngô Trí B, sinh năm: 1979

Nơi cư trú: xóm Hòa Nam, xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, trong bản tự khai, tại phiên tòa nguyên đơn chị Đặng Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Ngô Trí B vào ngày 02/12/1998, do hai người tự nguyện tìm hiểu và khi kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương. Sau khi cưới tình cảm hai vợ chồng B thường, đến năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B thường xuyên rượu chè, đánh đập vợ con, không lo tu chí làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến tình cảm không còn, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên nhủ quay về đoàn tù nhưng không thành, vợ chồng đã sống ly thân hơn 04 năm nay, chị M đã bỏ về ngoại sinh sống cho đến nay. Nay chị M xét thấy tình cảm vợ chồng với anh Ngô Trí B không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh B

Về nuôi con chung: Theo chị M trình bày chị và anh B đã có với nhau 04 con chung, cháu tên là Ngô Trí Tuấn, sinh ngày 20/02/2000, cháu Ngô thị Vân, sinh ngày 30/6/2002, cháu Ngô Trí Cầu, sinh ngày 25/11/2003, cháu Ngô Trí Tường, sinh ngày 08/6/2005, hiện nay 04 cháu đang ở với chị M, chị M có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con

Về chia tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương phát biểu quan điểm về vụ án:

- Về tố tụng:

Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ cũng như thời hạn giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.

Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung: Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016 về án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị HĐXX xét xử Cho chị Đặng Thị M được ly hôn anh Ngô Trí B, giao 03 con chung: cháu Vân, cháu Cầu, cháu Tường cho chị Đặng Thị M nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh B, không giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung.

Quá trình giải quyết, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Ngô Trí B không có mặt nên không có lời trình bày của anh B

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định.

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn chị Đặng Thị M và anh Ngô Trí B kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương. Do trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn nên nguyên đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền được qui định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự.

2. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh Ngô Trí B vắng mặt. Đây là lần triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Ngô Trí B vẫn vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt anh B là phù hợp quy định tại Điều 227 BLTTDS năm 2015.

3. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Đặng Thị M và anh Ngô Trí B chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có một thời chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, anh B thường xuyên rượu chè, không lo tu chí làm ăn, sau khi uống rượu về đánh đập vợ con, sự việc của chị M, anh B hai gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Chị M và các con đã phải bỏ về ngoại sinh sống hơn 04 năm, cho đến hôm nay vợ chồng không thể quay về sống chung với nhau được, nên chị M đã làm đơn yêu cầu ly hôn. Mặc dù chị M có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nhưng quá trình giải quyết vụ án Toà án đã kiên trì hoà giải để chị M quy lại đoàn tụ nhưng chị M xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, không thể quay trở lại xây dựng hạnh phúc được, tình cảm của chị đối với anh B đã không còn. Trước Tòa hôm nay, chị M vẫn khẳng định tình cảm giữa chị đối với anh B đã không còn, không thể đoàn tụ được, mâu thuẫn đã quá lớn và chị xin được Tòa án giải quyết ly hôn với anh Ngô Trí B. Xét thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy xử cho chị M được ly hôn anh B là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: theo Đặng thị M trình bày vợ chồng chị có 04 con chung là Ngô Trí Tuấn, sinh ngày 20/02/2000, cháu Ngô thị Vân, sinh ngày 30/6/2002, cháu Ngô Trí Cầu, sinh ngày 25/11/2003, cháu Ngô Trí Tường, sinh ngày 08/6/2005, nay 04 cháu đang sống với chị M. Nay ly hôn chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vân, cháu Cầu, cháu Tường (cháu Tuấn đã trên 18 tuổi), theo chị M các cháu nay đã về sống với chị đã ổn định, anh B nghiện rượu không có tài sản, không tạo ra thu nhập gì để nuôi dưỡng các cháu, các cháu đều có nguyện vong được ở với mẹ. Xét thấy nguyện vọng của chị M là chính đáng và phù hợp với nguyện vọng của các cháu được ở với mẹ . Để đảm bảo cho các cháu phát triển đầy đủ thể chất, tinh thần nên giao các cháu: cháu Vân, cháu Cầu, cháu Tường cho chị Đặng Thị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh B đến khi chị M có yêu cầu.

Về chia tài sản : chị M không yêu cầu về giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ giải quyết tài sản chung nên không xét

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

 Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị M được ly hôn anh Ngô Trí B

2. Về nuôi con chung:

Giao cháu Ngô thị Vân, sinh ngày 30/6/2002, cháu Ngô Trí Cầu, sinh ngày25/11/2003, cháu Ngô Trí Tường, sinh ngày 08/6/2005 cho chị Đặng Thị M trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên đủ 18 tuổi.

Anh Ngô Trí B được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai cản trở.

Vì lợi ích của con, các bên được quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

4. Về án phí: Buộc chị Đặng Thị M phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, nhưng được tính trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nạp tại biên lai số 0005065 ngày 18/3/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

"Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 147/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:147/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đô Lương - Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về