Bản án 144/2019/HNGĐ-ST ngày 11/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 144/2019/HNGĐ-ST NGÀY 11/06/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 11 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 312/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2019/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim C, sinh năm 1975.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1982.

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nguyên đơn, bị đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 21/4/2019, nguyên đơn chị Nguyễn Kim C trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Kim C và anh Nguyễn Văn L chung sống với nhau từ năm 1998, hôn nhân tự nguyện; không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống lúc đầu sống hạnh phúc, khoảng 02 năm lại đây phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng hay cự cải với nhau, anh L có quan hệ bất chính với người con gái khác, có lần đánh đập chị, chị và anh L đã ly thân hơn 01 năm nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị C và anh L có 02 người con tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1999 và Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/02/2007. Khi ly hôn Nguyễn Văn C đã trưởng thành, có cuộc sống riêng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Ngọc N. Không yêu cầu anh L cấp dưỡng.

- Về tài sản chung,nợ chung: Chị C xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Tại đơn yêu cầu ngày 27/5/2019, chị C yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị, chị vẫn bảo lưu ý kiến đã trình bày trong đơn khởi kiện, mong Tòa án xem xét giải quyết.

Tại đơn xin vắng mặt ngày 07/6/2019, bị đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị C về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ cụ thể:

Về hôn nhân: Giữa anh và chị C chung sống với nhau từ năm 1998; hôn nhân tự nguyện, không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nay, anh L nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với chị C.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1999 và Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/02/2007 đúng như chị C trình bày, anh thống nhất theo yêu cầu của chị C, con theo ai người đó nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ: Thống nhất như trình bày của chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh đi làm ăn xa nên yêu cầu tòa án xét xử vắng mặt anh theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Nguyễn Văn L có nơi trú tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Nguyễn Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Nguyễn Văn L, tranh chấp về nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chị C là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị C là nguyên đơn, anh L là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Các đương sự có yêu cầu xét xử vắng mặt; căn cứ theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh L không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, anh chị đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh L đã ly thân hơn 01 năm nay.

Xét, mâu thuẫn giữa chị C và anh L là thực tế có xảy ra; đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 16 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C, cho chị C được ly hôn với anh L là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị C và anh L có 02 người con tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1999 và Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/02/2007. Khi ly hôn, Nguyễn Văn C đã trưởng thành, có cuộc sống riêng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Ngọc N.

Xét, con chung tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/02/2007. Hiện cháu N sống chung với chị, gần gũi với chị, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc N cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với ước nguyện của cháu Nguyễn Ngọc N, theo biên bản ghi nhận ý kiến ngày 27/5/2019; không đặt ra việc cấp dưỡng. Anh L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

[4] Về tài sản chung và nợ: Chị C xác định tự thỏa thuận; nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 và khoản 3 Điều 68; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 9; Điều 14; Điều 15; Điều 16; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim C về việc ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Kim C và anh Nguyễn Văn L là vợ chồng.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/02/2007, cho chị C được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Kim C phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 14/5/2019 chị C đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003104 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

74
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 144/2019/HNGĐ-ST ngày 11/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:144/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:11/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về