Bản án 138/2019/HS-ST ngày 08/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 138/2019/HS-ST NGÀY 08/05/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 08 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2019/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Vũ Hoàng T, sinh năm 1976 tại tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Số xx đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn C (đã chết) và bà Vũ Thị N (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Kim H (là bị cáo trong vụ án), sinh năm 1980; có 02 con sinh năm 2007 và năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 02-01-2019 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Nam Định; có mặt.

2. Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1980 tại tỉnh Nam Định. Nơi đăng ký hộ khẩu: Số xx đường N, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Đinh; nơi cư trú: Số xx đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Viết H, sinh năm 1957 và bà: Phạm Thị TH, sinh năm 1957; chồng: Vũ Hoàng T (là bị cáo trong vụ án), sinh năm 1976; có 02 con sinh năm 2007 và năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 02-01-2019 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Nam Định; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 02-01-2019, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà nghỉ xx đường đê S, phường T, thành phố N, phát hiện Vũ Hoàng T đang chở Nguyễn Thị Kim H trên xe máy BKS: 18B1-xxxx có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để T hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra H đã tự giác lấy từ túi áo khoác ngoài bên phải H đang mặc 03 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 5x7cm giao nộp cho tổ công tác, tổ công tác thu giữ mở kiểm tra bên trong 03 gói đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (H và T khai đó là 03 túi ma túy đá của H và T mang đi bán kiếm lời). Tổ công tác đã T hành niêm phong vật chứng, đưa H, T và mời người làm chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã cũ, 01 xe máy BKS: 18B1-xxxx và số tiền 300.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 04/GĐKTHS ngày 07-01-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu vật gửi giám định trong 03 túi nilon màu trắng kích thước 5x7cm thu giữ của Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H đều là ma tuý; loại ma tuý: Methamphetamine; tổng khối lượng mẫu: 19,389 gam.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H đã khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau: Khoảng 13 giờ ngày 02-01-2019, T đang chở con đi học thì có một người phụ nữ (không rõ lai lịch) gọi điện hỏi mua 9.000.000 đồng ma túy đá, T đồng ý bán và hẹn gặp giao dịch ở đường đê S, phường T, thành phố N. T chở con đến trường, sau đó một mình đến nhà một phụ nữ tên O ở 13 H, phường N, thành phố N để mua ma túy đá. Đến nơi T hỏi mua của O 8.000.000 đồng ma túy đá và nói với O khi bán được ma túy thì sẽ trả tiền, O đồng ý và đưa cho T 03 túi ma túy đá được gói bằng túi nilon màu trắng. Mua được ma túy, T gọi điện cho H nói là có khách mua 9.000.000 đồng tiền ma túy đá và bảo H cùng đi giao ma túy cho khách, H đồng ý. Khi về đến nhà T đưa cho H 03 túi ma túy đá bọc ngoài bằng túi nilon màu trắng. H cầm 03 túi ma túy cất vào túi bên phải áo khoác đang mặc. T điều khiển xe máy BKS: 18B1-377.14 chở H ngồi sau đi giao ma túy đá cho khách, khi đi đến trước cửa nhà nghỉ H, đường đê S, phường T, thành phố Nthì bị phát hiện, bắt giữ.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Nam Định đã xác minh, triệu tập và lấy lời khai của Nguyễn Thị O, sinh năm 1971; trú tại: xx H, phường N, thành phố N. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra, O không thừa nhận gặp T và không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T vào ngày 02-01-2019.

Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho T và đối tượng hỏi mua ma túy của T, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định, cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra để xác minh làm rõ, xử lý sau.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình và khai nguyên nhân các bị cáo phạm tội do hám lời.

Bản cáo trạng số 135/CT-VKSTPNĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H về tội danh, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng T từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim H từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo T từ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen; trả lại cho bị cáo T 300.000 đồng; trả lại bị cáo H 01 chiếc xe máy BKS: 18B1-377.14 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo T xin Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Khoảng 14 giờ ngày 02-01-2019, Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H đã có hành vi tàng trữ trái phép 19,389 gam Methamphetamine mục đích để bán thì bị phát hiện bắt giữ tại khu vực trước cửa nhà nghỉ xx, đường đê S, phường T, thành phố N Hành vi của các bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng, biên bản về việc bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung:

Bị cáo Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H đã tàng trữ trái phép 19,389 gam Methamphetamine mục đích để bán nên hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành định khung quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

4.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hành vi của các bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4.3. Về hình phạt chính:

Các bị cáo Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H cùng thống nhất thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm. Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án:

Khi có người hỏi mua ma túy, bị cáo Vũ Hoàng T là người chủ động liên hệ việc mua ma tuý. Sau khi mua được ma tuý bị cáo đã gọi điện cho bị cáo H để cùng mang ma tuý đi bán nên xếp bị cáo ở vai trò đầu trong vụ án. Về hình phạt cần có mức án cao hơn so với bị cáo H.

Bị cáo Nguyễn Thị Kim H là người tham gia với vai trò đồng phạm, bị cáo là người trực tiếp cất giấu ma túy để mang đi bán thì bị bắt quả tang nên xếp bị cáo ở vai trò sau bị cáo T. Về hình phạt cần có mức án thấp hơn so với bị cáo T.

Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần ấn định cho các bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên các bị cáo là vợ chồng và cùng tham gia trong một vụ án nên cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích thu lời bất chính, để tăng cường tính răn đe và phòng ngừa chung cần phạt các bị cáo một khoản tiền nhất định sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, xét các bị cáo là vợ chồng, bị cáo T có vai trò đầu trong vụ án nên chỉ cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H. Bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định nên ấn định mức tiền phạt ở mức thấp nhất theo quy định của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy bị thu giữ trong phong bì niêm phong số 04/GĐKTHS là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

- 01 điện thoại di động Nokia là phương tiện bị cáo T sử dụng liên lạc mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Số tiền 300.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo T, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí Hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

- 01 xe máy BKS: 18B1-377.14 mang tên bị cáo Nguyễn Thị Kim H, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H. Vì chiếc xe máy này là tài sản chung của bị cáo Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H nên tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo H và hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

[7] Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng T 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02-01-2019.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim H 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02-01-2019.

Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Vũ Hoàng T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 04/GĐKTHS;

 đen;

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu

- Trả lại bị cáo Vũ Hoàng T 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Kim H 01 xe máy biển kiểm soát 18B1-377.14 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo H và hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng).

4. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)

5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Vũ Hoàng T và Nguyễn Thị Kim H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án Dân sự: Các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 138/2019/HS-ST ngày 08/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:138/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về