Bản án 1372/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1372/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/11/2019 VỀ TRANH CHẤP THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU LY HÔN

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 526/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2019 về việc "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 507/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị N, sinh năm: 1988 (Có mặt).

Đa chỉ: ấp 1 xã VLA, huyện BC, Thành phố H.

2. Bị đơn: Ông Lại Đình L, sinh năm: 1982 (Có mặt);

Đa chỉ: ấp 5 xã VLA, huyện BC, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Mai Thị N trình bày:

Ngày 11/3/2019, bà và ông Lại Đình L được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giải quyết thuận tình ly hôn theo Quyết định số 185/2019/QĐST-HNGĐ. Theo quyết định ly hôn, con chung tên Lại Đình Phước T, giới tính nam, sinh ngày 08/01/2011 và cháu tên Lại Đình Phước Đ, giới tính nam, sinh ngày 14/08/2015 giao cho ông L nuôi dưỡng. Bà thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo khả năng và được quyền thăm nom con. Nhưng ông L nuôi con không được tốt, không có nhiều thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng con, không thường xuyên ở bên cho và giao cho người khác chăm sóc. Mặc khác ông L và gia đình ông L thường xuyên có hành vi cản trở việc thăm nom con của bà. Hiện nay bà có đủ điều kiện về kinh tế để nuôi dưỡng con chung, thu nhập hàng tháng của bà khoảng 20.000.000 đồng. Vì vậy, bà có nộp đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giải quyết được thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn. Bà được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lại Đình Phước T, giới tính nam, sinh ngày 08/01/2011 và cháu tên Lại Đình Phước Đ, giới tính nam, sinh ngày 14/08/2015.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bà nhận thấy trẻ Lại Đình Phước Đ còn quá nhỏ không biết tự chăm sóc bản thân, cần được sự quan tâm, chăm sóc của mẹ hơn cha. Hơn nữa, trong thời gian sống chung với ông L, trẻ Điền thường xuyên bệnh tật, phát triển không tốt. Còn trẻ Trí đã có thể tự chăm sóc tốt cho bản thân. Cho nên, bà yêu cầu thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn là bà chỉ yêu cầu ông Lại Đình L phải giao con chung tên Lại Đình Phước Đ cho bà được nuôi dưỡng. Còn trẻ Lại Đình Phước T vẫn do ông L chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Ti phiên tòa, do ông Lại Đình L không đồng ý nuôi dưỡng trẻ Phước T và tự nguyện giao trẻ Phước T cho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Lại Đình Phước T, giới tính nam, sinh ngày 08/01/2011 và trẻ Lại Đình Phước Đ, giới tính nam, sinh ngày 14/08/2015. Bà không yêu cầu ông L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lại Đình L trình bày:

Ngày 11/3/2019, ông và bà Mai Thị N được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giải quyết thuận tình ly hôn theo Quyết định số 185/2019/QĐST -HNGĐ. Theo quyết định ly hôn, con chung tên Lại Đình Phước T, giới tính nam, sinh ngày 08/01/2011 và trẻ Lại Đình Phước Đ, giới tính nam, sinh ngày 14/8/2015 cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng và bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông vẫn chăm sóc và nuôi dưỡng tốt cho hai con chung. Ông cũng có điều kiện về kinh tế, thu nhập ổn định để nuôi dưỡng tốt cho hai con chung. Về điều kiện kinh tế của bà N thì không tốt, thu nhập không ổn định và đang thuê nhà trọ nên bà N không có đủ điều kiện hơn ông về nuôi dưỡng con. Hiện trẻ Lại Đình Phước T đang sống chung với bà N còn trẻ Lại Đình Phước Đ thì đang sống chung với ông. Ông xác nhận vào tháng 8 năm 2019, giữa bà N và mẹ ruột của ông là bà Âu Thị Thảnh có xảy ra xô xát liên quan đến việc thăm nom con. Thu nhập hàng tháng của ông khoảng 10.000.000 đồng. Nay bà Mai Thị N yêu cầu thay đổi việc nuôi sau ly hôn, bà N yêu cầu được nuôi hai con chung tên Lại Đình Phước T, giới tính nam, sinh ngày 08/01/2011 và trẻ Lại Đình Phước Đ, giới tính nam, sinh ngày 14/8/2015 thì ông không đồng ý. Ông chỉ đồng ý cho bà Mai Thị N được nuôi Lại Đình Phước T, giới tính nam, sinh ngày 08/01/2011 và ông trực tiếp nuôi trẻ Lại Đình Phước Đ, giới tính nam, sinh ngày 14/8/2015. Hai bên không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Đi diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Mai Thị N khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh nên theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

[2]. Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[2.1]. Trong thời kỳ hôn nhân, bà N và ông L chung sống với nhau có hai người con chung tên Lại Đình Phước T, giới tính nam, sinh ngày 08/01/2011 và trẻ Lại Đình Phước Đ, giới tính nam, sinh ngày 14/08/2015. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 185/2019/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung giao trẻ Lại Đình Phước T và trẻ Lại Đình Phước Đ cho ông Lại Đình L nuôi dưỡng. Bà Mai Thị N tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[2.2]. Căn cứ Hợp đồng lao động số 9HĐ ngày 01/02/2019, các Bảng tính lương tháng 5, 6, 7 năm 2019 của Công ty cổ phần đầu tư bất động sản Triệu Phát thì bà Mai Thị N làm việc tại Công ty cổ phần đầu tư bất động sản Triệu Phát địa chỉ 140 đường số 4 khu phố 3, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian làm việc không phụ thuộc vào giờ giấc làm việc tại trụ sở chính mà chủ động hoàn thành công việc theo chỉ tiêu được giao, với mức lương trung bình là khoảng 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) mỗi tháng. Theo sự thừa nhận của ông Lại Đình L thì ông L đang làm thợ sửa xe máy tại nhà với thu nhập hàng tháng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Như vậy, với mức thu nhập và điều kiện làm việc của ông L thì việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung sẽ có thể gặp rất nhiều khó khăn và khó đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của hai con chung. Mặt khác, việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Phước Đ chủ yếu do người thân của ông L thực hiện. Trong thời gian Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án, các đương sự thừa nhận là bà N có đến nhà ông L để thăm nom trẻ Phước Đ nhưng gia đình ông L, cụ thể là mẹ ông L bà Âu Thị Th đã có hành vi cản trở và xảy ra xô xát, đánh nhau, sự việc đã được Công an xã VLA xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nêu trên. Hiện nay, trẻ Phước T đang sống chung với bà N và bà N đã chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho trẻ Trí. Đồng thời, ông L tự nguyện giao trẻ Phước T cho bà N trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng. Còn trẻ Phước Đ, vừa được hơn 04 tuổi 3 tháng, đã bắt đầu bước vào tuổi nhận thức thế giới xung quanh, có nhu cầu giao tiếp, học hỏi, chia sẻ và tiếp tục phát triển về giới nên được mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì sẽ phù hợp hơn và thuận lợi hơn cho sự phát triển tâm sinh lý của trẻ, đảm bảo lợi ích về mọi mặt đối với trẻ, giúp trẻ phát triển tốt về thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức để trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ý cho xã hội. Phía ông L và các thành viên trong gia đình ông L có hành vi cản trở bà N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà N về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lại Đình Phước T và trẻ Lại Đình Phước Đ là có cơ sở chấp nhận phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81, điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[3]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận;

[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị N về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với ông Lại Đình L.

Giao con chung tên Lại Đình Phước T, giới tính nam, sinh ngày 08/01/2011 và trẻ tên Lại Đình Phước Đ, giới tính nam, sinh ngày 14/08/2015 cho bà Mai Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến trưởng thành. Ông Lại Đình L không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi do bà N không yêu cầu.

Ông Lại Đình L có trách nhiệm giao con chung tên Lại Đình Phước T, giới tính nam, sinh ngày 08/01/2011 và trẻ tên Lại Đình Phước Đ, giới tính nam, sinh ngày 14/08/2015 cho bà Mai Thị N ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông Lại Đình L có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết có thể xin thay đổi nuôi con hoặc đóng góp mức cấp dưỡng nuôi con sau này.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Về án phí:

Ông Lại Đình L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Hoàn trả lại cho bà Mai Thị N số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/003127 ngày 03 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 1372/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

Số hiệu:1372/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về