Bản án 133/2019/HSST ngày 13/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI

 BẢN ÁN 133/2019/HSST NGÀY 13/11/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 13/11/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 136/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, Sinh năm 2000 tại Ninh Thuận. Tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không đi học.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1965 và bà Mai Thị Kim T, sinh năm 1972. Bị can là con út trong gia đình có 03 chị em, chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 09/7/2019 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 00 ngày 21/6/2019 Công an thị trấn L tiến hành kiểm tra phòng trọ số B, nhà trọ của ông Nguyễn Thiên A tại tổ B, khu K, thị trấn L,  huyện L, tỉnh Đồng Nai. Tại thời điểm kiểm tra có T, V và Nguyễn Văn Q đang ở trong phòng trọ. Qua kiểm tra phát hiện trong người Q có 01 ví da màu đen, bên trong ví da có 10 gói nylon bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng không rõ hình nghi là ma túy bao gồm: 04 gói nylon có kích thước khoảng 04cm x 07cm; 03 gói nylon có kích thước khoảng 04cm x 3.5cm; 03 gói nylon có kích thước khoảng 02cm x 04cm. Q khai nhận toàn bộ 10 gói nylon trên là ma túy, do Q mua của người đàn ông tên C (Q không rõ nhân thân, lai lịch và địa chỉ của C) vào ngày 19/6/2019 với giá 8.000.000đ, mục đích để sử dụng. Công an thị trấn L tiến hành lập biên bản sự việc và sau đó cho người nhà của Q bảo lãnh.

Trong thời gian được bảo lãnh, đến 12 giờ 30 phút ngày 09/7/2019 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân. Lực lượng Công an huyện L tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà ông H là cha ruột của Q thuê tại ấp B, xã L, huyện L. Tại thời điểm kiểm tra có Nguyễn Văn Q, H và P. Qua kiểm tra phát hiện trên nệm có 01 gói nylon kích thước 03cm x 03cm được hàn kín hai đầu bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Q khai nhận gói nylon trên là ma túy tổng hợp do Q mua của người đàn ông tên B (Quốc không rõ nhân thân, lai lịch và địa chỉ của B) tại khu vực ngã tư L thuộc ấp H, xã L, huyện L với giá 200.000đ, mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ đối với Q.

Tại bản kết luận giám định số: 3341/C09B ngày 15/7/2019 của Phân viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ ngày 21/6/2019, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng là 18.9252gam, loại: Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số: 3342/C09B ngày 15/7/2019 của Phân viện khoa học hình sự Bộ công an Kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ ngày 09/7/2019, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng là 0.2356 gam, loại: Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ ngày 21/6/2019 có 10 gói nylon bao gồm 04 gói nylon có kích thước 04cm x 07cm; 03 gói nylon có kích thước 04cm x 3.5cm; 03 gói nylon có kích thước 02cm x 04cm chứa 18,9252gam ma túy loại Methamphetamine. 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy, 01 bộ sử dụng ma túy và 01 điện thoại di động Iphone màu vàng.

Vật chứng thu giữ ngày 09/7/2019 có 01 gói nylon có kích thước 03cm x 03cm bên trong chứa 0,2356 gam ma túy loại Methamphetamine. Tất cả số ma túy trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện L chờ xử lý.

Đối với 01 điện thoại iphone màu vàng qua xác minh không liên quan đến sự việc mua bán ma túy của Q, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành trả lại điện thoại trên cho Q.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, bị can Nguyễn Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên, phù hợp với lời khai người làm chứng cùng các vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 142/CT-VKSLT ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội danh: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo điều khoản nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 06 năm 06 tháng tù đến 07 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q khai nhận:

Nguyễn Văn Q là người nghiện ma túy. Vào lúc 10 giờ 00 ngày 21/6/2019, tại phòng trọ số 04, nhà trọ của ông A ở tổ H, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Q đã có hành vi tàng trữ 10 gói nilon bên trong chứa ma túy. Sau đó Công an thị trấn L cho gia đình bảo lãnh Q về nhà. Đến 12 giờ 30 phút ngày 09/7/2019, tại nhà của ông Nguyễn Ngọc H (là cha ruột Q) tại ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Q tiếp tục có hành vi tàng trữ 01 gói nylon bên trong chứa ma túy.

Tại bản kết luận giám định số: 3341/C09B ngày 15/7/2019 của Phân viện khoa học hình sự Bộ công an Kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ ngày 21/6/2019, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng là 18.9252gam, loại: Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số: 3342/C09B ngày 15/7/2019 của Phân viện khoa học hình sự Bộ công an Kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ ngày 09/7/2019, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng là 0.2356 gam, loại: Methamphetamine.

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định bị cáo Nguyễn Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt phù hợp với Điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố và viện dẫn tại Cáo trạng.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật, mua ma túy về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Là nguyên nhân khiến tệ nạn ma túy phát triển, kéo theo nhiều tệ nạn và các tội phạm khác, đồng thời là nguyên nhân lây truyền bệnh tật nguy hiểm.

Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt và để răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tập trung cải tạo, rèn luyện để có thể trở thành một công dân tốt.

[4] Đối với T và V tại thời điểm kiểm tra vào ngày 21/6/2019 đang ở cùng phòng trọ với Q, tuy nhiên T và V không biết được ma túy do Q mua và cất giấu ở đâu, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý. Đối với ông H và P tại thời điểm kiểm tra ngày 09/7/2019 có mặt cùng với Q, tuy nhiên ông H và P không biết có ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.

Đối với người đàn ông tên C và người đàn ông tên B bán ma túy cho Q, hiện chưa rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng qua xác minh không liên quan đến việc tàng trữ ma túy của Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại điện thoại trên cho Q là phù hợp.

Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma túy đã được niêm phong sau giám định số 3341/C09B ngày 15/7/2019; 01 gói ma túy đã được niêm phong sau giám định số 3342/C09B ngày 15/7/2019; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã qua sử dụng.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ theo quy định.

[7] Về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều được thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án .

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2019.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy đã được niêm phong sau giám định số 3341/PC09-GĐMT ngày 15/7/2019; 01 gói ma túy đã được niêm phong sau giám định số 3342/PC09-GĐMT ngày 15/7/2019; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2019 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện L).

Án phí HSST: Bị cáo phải nộp 200.000đ.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


34
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 133/2019/HSST ngày 13/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:133/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về