Bản án 132/2018/HS-ST ngày 22/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 132/2018/HS-ST NGÀY 22/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Danh N, sinh năm 1986; tại Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Số A đường Ng, phường Qu, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Công N; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nh sinh năm 1959 và bà Phạm Thị Q (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 147/2015/HSST, ngày 27-8-2015, bị Tòa án N dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội xử phạt 03 tháng 10 ngày tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (đã xóa án tích); tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-6-2018 đến này; có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH K; địa chỉ: khu phố Ô, phường T, thị xã U, tỉnh Bình Dương.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Shim M S, quốc tịch: Hàn Quốc, chức vụ: Tổng giám đốc - là người đại diện theo pháp luật; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn M, sinh năm 1991; thường trú: xóm B xã X, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: khu phố Ô, phường T, thị xã U, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Vũ Văn H, sinh năm 1979; vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1992; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Danh N làm N viên IT của Công ty TNHH K, có trụ sở chính tại khu phố Ô, phường T, thị xã U, tỉnh Bình Dương từ ngày 22-01-2018. Do không có tiền tiêu xài nên N nảy sinh ý định lấy trộm máy vi tính của công ty để cầm cố lấy tiền tiêu xài. Ngày 30-5-2018, N đến Phòng công nghệ thông tin thuộc Xưởng số 2 của Công ty TNHH K ở khu phố V, phường U, thị xã U lấy 03 bộ máy tính chưa qua sử dụng gồm: 03 màn hình máy tính hiệu LCD LG 20M39H; 03 thùng CPU chíp xử lý intel i3, mạch chính Giga H11MDS2, bộ máy tính Kingmax 4gb, Ddr-2400, ổ cứng, bộ nguồn 500W Arrow. Sau đó, N thuê taxi chở đến tiệm cầm đồ Anh Duy – Đại Phước 1 thuộc khu phố Ô, phường T, thị xã U do ông Lê Văn M làm chủ để cầm với giá 4.000.000 đồng/01 bộ, tổng cộng 12.000.000 đồng.

Ngày 05-6-2018, N đến phòng làm việc tại Xưởng số 1 của Công ty lấy 01 máy tính xách tay hiệu Dell ins 5559 màu nhám mà N hay sử dụng mang đến tiệm cầm đồ Anh Duy – Đại Phước 1 cầm với số tiền 6.000.000 đồng.

Vào các ngày 11-6-2018, 12-6-2018 và 13-6-2018, N đi bộ đến Phòng công nghệ thông tin xưởng số 2 của công ty ở khu phố V, phường U, thị xã U để lấy trộm máy vi tính. Mỗi ngày N lấy trộm 01 bộ máy vi tính chưa qua sử dụng gồm: 01 màn hình máy tính LCD LG 20M39H và 01 thùng CPU chíp xử lý intel i3, mạch chính Giga H11MDS2, bộ máy tính Kingmax 4gb, Ddr-2400, ổ cứng, bộ nguồn 500W Arrow. N mang 03 bộ máy tính này đến tiệm cầm đồ Anh Duy – Đại Phước 1 gặp ông Lê Văn M cầm với số tiền 4.000.000 đồng/01 bộ, tổng cộng 12.000.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15-6-2018, N mang theo 01 balo đi từ phòng làm việc tại xưởng số 1 qua văn phòng nhân viên cách khoảng 50m. N quan sát thấy không có người nên đến bàn làm việc của ông Yun Dong Ho là nhân viên của công ty lấy 01 máy tính xách tay hiệu ASUS core i7 màu vàng bỏ vào trong balo. N tiếp tục đến bàn làm việc của ông Youn Jun Hoon lấy 01 máy laptop nhãn hiệu HP core i7 màu bạc. Sau đó, N gọi taxi đến tiệm cầm đồ Anh Duy – Đại Phước 1 cầm được 14.000.000 đồng. Sau khi cầm xong, N đến bưu điện thị xã Tân Uyên chuyển số tiền 14.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Đông Á, sau đó đến tiệm Internet gần đó chơi game và xem bóng đá. Đến khoảng 08 giờ ngày 16-6-2018, N đến trụ ATM của Ngân hàng Đông Á thuộc khu phố Ô, phường T, thị xã U rút số tiền 14.000.000 đồng để trả nợ cho một người bạn tên Hiếu (không rõ lai lịch). Đến khoảng 19 giờ cùng ngày N đến Công an phường Tân Hiệp, thị xã Tân Uyên, Bình Dương đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã tiến hành thu giữ vật chứng gồm: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS intel core i7 màu vàng; 01 máy tính xách tay hiệu HP core i7 màu màu bạc; 01 máy tính xách tay hiệu DELL core i5 màu nhám; 05 bộ máy vi tính gồm: 05 màn hình máy tính LCD LG 20M39H; 05 CPU chíp xử lý intel i3, mạch chính Giga H11MDS2, bộ máy tính Kingmax 4gb, Ddr-2400, ổ cứng, bộ nguồn 500W Arrow và 01 ba lo màu đỏ đen có in chữ “Honda Head An Thành”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 135/KLTS-TTHS ngày 25-6-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên kết luận: 06 bộ máy vi tính chưa qua sử dụng gồm: 06 màn hình máy tính LCD LG 20M39H và 06 thùng CPU chíp xử lý intel i3, mạch chính vi tính Giga H11MDS2, bộ máy tính Kingmax 4gb, Ddr-2400, ổ cứng, bộ nguồn 500W Arrow, mỗi bộ máy tính trị giá 8.510.000 đồng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 51.060.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 136/KLTS-TTHS ngày 25-6-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS intel core i7 màu vàng đã qua sử dụng trị giá 12.950.000 đồng, 01 máy tính xách tay hiệu HP core i7 màu màu bạc đã qua sử dụng trị giá 15.000.000 đồng, 01 máy tính xách tay hiệu DELL core i5 màu nhám đã qua sử dụng trị giá 8.850.000 đồng. Tổng cộng là 36.800.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của Công ty TNHH K là 87.860.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 136/CT-VKS.TU ngày 18-9-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo NGuyễn Danh N mức hình phạt từ 3 năm đến 4 năm tù.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thống nhất thừa nhận: Từ ngày 30-5-2018 đến ngày 15-6-2018 tại Xưởng số 1 và Xưởng số 2 của Công ty TNHH K ở khu phố Ô, phường T và khu phố V, phường U, thị xã U bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của Công ty lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 06 bộ máy vi tính chưa qua sử dụng có giá trị là 51.060.000 đồng và 03 máy tính xách tay gồm: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS intel core i7 màu vàng, 01 máy tính xách tay hiệu HP core i7 màu màu bạc và 01 máy tính xách tay hiệu DELL core i5 màu nhám đã qua sử dụng có tổng giá trị là 36.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của Công ty TNHH K là 87.860.000 đồng. Hành vi đó đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo lợi dụng mình là nhân viên IT, có thể mang máy tính của công ty ra ngoài mà không bị kiểm tra để dễ dàng thực hiện hành vi chiếm đoạt. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của công ty là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài mà không phải qua lao động nên đã cố ý phạm tội. Hành vi đó thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, làm giảm lòng tin của công ty có vốn đầu tư nước ngoài đối với nhân viên. Ngoài ra, ngày 27-8-2015, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 03 tháng 10 ngày tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo không lấy đây làm bài học cho bản thân để sống tuân thủ pháp luật mà lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; phần lớn tài sản được thu hồi giao trả cho nguyên đơn dân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên đề nghị xử phạt bị cáo như nêu trên là phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc balo màu đỏ đen có in chữ Honda Head An Thành là vật dụng bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm nhưng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 bộ máy vi tính không thu hồi được, nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.510.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý mức bồi thường này. Đối với số tiền 40.000.000 đồng bị cáo nhận của ông Lê Văn M trong các lần cầm cố, ông Mạnh chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường 30.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo NGuyễn Danh N phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2  Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo NGuyễn Danh N 3 (Ba) năm 6 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17-6-2018.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự;

- Buộc bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH K số tiền 8.510.000 đồng.

- Buộc bị cáo bồi thường cho ông Lê Văn M số tiền 30.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 chiếc balo màu đỏ đen có in chữ Honda Head An Thành. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19-9-2018).

5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo NGuyễn Danh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.925.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 132/2018/HS-ST ngày 22/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:132/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Uyên - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về