Bản án 13/2020/HS-ST ngày 13/01/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 13/2020/HS-ST NGÀY 13/01/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 13 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 456/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 491/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Hoàng T, sinh năm 1994 tại thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Lê Hoàng S, sinh năm 1966 và mẹ là Trần Thị M, sinh năm 1968; có 02 anh em, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1996; tiền án: Ngày 31/10/2018 Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 317/2018/HSST; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 31/10/2019, có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Nguyn Thị Thu T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng T sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2016 cho đến khi bị bắt, loại ma túy T sử dụng là ma túy đá, tên khoa học là Methamphetamine.

Khong 01 giờ ngày 31/10/2019, T đến chơi tại khu vực làng Đại học, khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương, gặp bạn là D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) và được D cho 01 gói ma túy đá. Sau đó, T đi đến phòng trọ của Nguyễn Thị Thu Th tại phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương rồi cùng Th đến thuê phòng đường Tô Vĩnh Diện, khu phố T, phường Đ, thị xã D. Cả hai vào trong phòng, sau khi Th ngủ thì T lấy ra gói ma túy để trên bàn nhưng do sơ suất nên T làm rơi gói nylon ma túy xuống sàn nhà. Đến khoảng 06 giờ ngày 31/10/2019, Công an phường Đ, thị xã D, phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã D kiểm tra hành chính phòng hiện trên sàn nhà có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 cái bình và 01 cái nỏ bằng thủy tinh) và 01 gói ma túy đá. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hoàng T cùng vật chứng. Quá trình xác minh T có 01 tiền án về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 317/2018/HSST ngày 31/10/2018.

Vật chứng thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 cái bình và 01 cái nỏ bằng thủy tinh) và 01 gói ma túy đá.

Tại kết luận giám định số 813/MT-PC09 ngày 07/11/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon hàn kín gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0939 gam, loại Methamphetamine”.

Đi với người thanh niên đưa ma túy cho Lê Hoàng Thạch hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đi với Nguyễn Thị Thu Th không biết bị cáo T có cất giấu trái phép chất ma túy nên không xử lý hình sự. Tuy nhiên, Th là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên bị Quyết định xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng và thông báo về địa phương để quản lý, giáo dục.

Tại cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 16 tháng 12 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Hoàng T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bỳ thư đã niêm phong bên trong chứa 0,0688 gam ma túy Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 cái bình và 01 cái nỏ bằng thủy tinh).

Tại phiên tòa, trong phần thực hiện nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Khoảng 06 giờ ngày 31/10/2019, Công an phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã D kiểm tra hành chính nhà nghỉ đường Tô Vĩnh Diện, khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì phát hiện phòng do Lê Hoàng T thuê, trên sàn nhà có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 cái bình và 01 cái nỏ bằng thủy tinh) và 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá T khai của bạn cho để sử dụng, nên tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Lê Hoàng T cùng vật chứng.

Tại kết luận giám định số 813/MT-PC09 ngày 07/11/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon hàn kín gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0939 gam, loại Methamphetamine”.

Hành vi của bị cáo tàng trữ 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0939 gam để sử dụng, tuy chưa đủ trọng lượng để chịu trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo có 01 tiền án về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, do đó hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 11/CT–VKS ngày 16 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng vẫn tái nghiện.

[7] Xử lý vật chứng: Xét 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong có chứa 0,0688 gam ma túy loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 cái bình và 01 cái nỏ bằng thủy tinh) tịch thu tiêu hủy.

[8] Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Đối với người thanh niên đưa ma túy cho Lê Hoàng T hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.

[10] Đối với Nguyễn Thị Thu Th không biết bị cáo T có cất giấu trái phép chất ma túy nên không xử lý hình sự. Tuy nhiên, Th là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên bị Quyết định xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng và thông báo về địa phương để quản lý, giáo dục.

[11] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2019.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tch thu tiêu hủy 01 bỳ thư đã niêm phong bên trong có chứa 0,0688 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 cái bình và 01 cái nỏ bằng thủy tinh).

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/12/2019, bút lục 79).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Hoàng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

166
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2020/HS-ST ngày 13/01/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:13/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 13/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về