Bản án 13/2019/HS-ST ngày 10/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LA

BẢN ÁN 13/2019/HS-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Vương Thanh Tr, sinh năm 1995 tại thành phố H; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký thường trú và Nơi sinh sống (Cư trú): Ấp 1, xã LĐ, huyện CĐ, tỉnh LA; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá (Học vấn): 9 /12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thế H và bà Phạm Thị T ;Vợ: Lê Thanh Th; Có 1 người con, sinh năm: 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: chưa có. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/4/2019 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1955 (Có mặt); Địa chỉ: Ấp 1, xã LĐ, huyện CĐ, tỉnh LA.

Người có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị N, sinh năm: 1952 (Vắng mặt); Địa chỉ: Số 02 đường Mai Hắc Đế, phường 15, quận 8, thành phố H.

Người làm chứng: Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1958 ( Có mặt); Địa chỉ: Ấp 1, xã LĐ, huyện CĐ, tỉnh LA.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi của bị cáo: Khoảng 19 giờ ngày 13/3/2019, Vương Thanh Tr điều khiển xe mô tô biển số 59D2-233.32 đến nhà cậu ruột là ông Phạm Văn K ở ấp 1, xã LĐ, huyện CĐ để chở ông K về nhà Tr ăn cơm, cách khoảng 01km. Trên đường đi Tr nảy sinh ý định quay trở lại đột nhập nhà ông K để chiếm đoạt tài sản. Sau khi ăn cơm xong, ông K và bà Phạm Thị T là mẹ ruột của Tr ngồi nói chuyện và xem tivi. Lúc này Tr đi bộ đến nhà ông K, leo lên hàng rào vào khuôn viên nhà ông K, rồi leo lên nóc nhà dỡ ngói đột nhập vào bên trong nhà. Tr đến tủ nhôm nhà sau lục soát, chiếm đoạt tài sản gồm có: 02 (hai) nhẫn kim loại màu vàng 9999 có ký hiệu KIMNGOC KNI 9999 KNJ 50, mỗi nhẫn trọng lượng 05 chỉ; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có ký hiệu KIMNGOC KNJ 9999 KNJ 20, trọng lượng 02 chỉ; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có tuổi 5.0, đính hột trang sức thường màu xanh có ký hiệu MINH 18, trọng lượng 2,15 chỉ; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có tuổi 6.1, đính hột trang sức thường màu trắng có ký hiệu N481, trọng lượng 2,88 chỉ và số tiền 4.850.000 đồng.

Lấy được tài sản Tr bỏ vào túi quần đang mặc, rồi tẩu thoát theo lối cũ và lợp ngói lại. Tiếp đến Tr về nhà lấy tài sản vừa trộm được cất vào cốp xe mô tô biển số 59D2-233.32, chở ông K về nhà. Ông K thấy cửa tủ nhôm bị hở phía dưới nên kiểm tra lại tài sản, phát hiện bị mất số tài sản nêu trên nên trình báo công an. Quá trình điều tra bị cáo Tr thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm và tự nguyện giao nộp toàn bộ tài sản.

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 15/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện CĐ kết luận số tài sản mà Vương Thanh Tr trộm của ông K là 59.630.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vương Thanh Tr thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo khai: Do không có tiền lo cho vợ con trong thời gian bị thất nghiệp nên bị cáo trộm tài sản của ông K. Bị cáo bị truy cứu về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan sai. Bị cáo không có ý kiến về kết luận định giá tài sản; Lời khai của bị hại và lời khai của người làm chứng tại phiên tòa.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo; không có ai đe dọa, cưỡng ép.

Người bị hại ông Phạm Văn K có lời trình bày phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa. Hiện tại số tài sản bị cáo Tr chiếm đoạt Tr đã giao nộp lại đầy đủ và Cơ quan điều tra đã giao trả đủ cho ông nên ông không có yêu cầu gì thêm.

Người làm chứng bà Phạm Thị T có lời trình bày tại phiên tòa đúng với diễn biến sự việc như bị cáo Tr và ông K trình bày.

Bản Cáo trạng số 21/CT-VKS-CĐ ngày 17/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA truy tố bị cáo Vương Thanh Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Vương Thanh Tr đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo có cậu ruột là liệt sĩ; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị hại có đơn xin bãi nại; hoàn cảnh gia đình khó khăn do đang nuôi con nhỏ và mẹ ruột bị bệnh ung thư, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vương Thanh Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Thanh Tr từ 02 đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.

Đề nghị miễn phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã giao nộp lại đủ tài sản cho bị hại nên không đề cập.

Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Người bị hại có ý kiến tranh luận: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện lo cho mẹ và con nhỏ.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo không có lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét nội dung vụ án: Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/3/2019 tại nhà ông Phạm Văn K, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai, khách quan tại phiên tòa. Lợi dụng sự sơ hở của ông K bị cáo Tr đã lét lút chiếm đoạt tài sản của ông K nhằm mục đích chi tiêu cho gia đình trong lúc bị cáo bị thất nghiệp.

[2.1] Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 15/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện CĐ kết luận số tài sản mà Vương Thanh Tr trộm của ông K là 59.630.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với cùng tình tiết định khung hình phạt tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình Sự, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA đối với bị cáo là có căn cứ. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c).Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000đồng đến dưới 200.000.000đồng…”.

[2.2] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[2.3] Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có cậu ruột là liệt sĩ; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị hại có đơn xin bãi nại; hoàn cảnh gia đình khó khăn do đang nuôi con nhỏ và mẹ ruột bị bệnh ung thư; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho người bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[2.4] Xét hình phạt đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người bị hại; tác động xấu đến nếp sống văn minh lành mạnh; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đủ sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh công bằng của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên chấp nhận lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho bị cáo Tr được hưởng án treo. Giao bị cáo Tr về UBND xã LĐ để giám sát, giáo dục.

Xét hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[2.5] Xét trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí: Bị cáo Vương Thanh Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố: Bị cáo Vương Thanh Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vương Thanh Tr 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vương Thanh Tr về Ủy ban nhân dân xã LĐ, huyện CĐ, tỉnh LA để theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự”.

Miễn phạt tiền cho bị cáo Vương Thanh Tr theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Bị cáo Vương Thanh Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được Tòa án niêm yết bản án hợp lệ.


95
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/HS-ST ngày 10/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:13/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cần Đước - Long An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về