Bản án 13/2018/HS-ST ngày 29/01/2018 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 13/2018/HS-ST NGÀY 29/01/20187 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 01 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2017/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Lư Văn Quang T (B), sinh năm: 1987, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: số 475/27/25 đường H, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở: 71/483B48 đường I, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc:Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:Thiên chúa; quốc tịch:  Việt  Nam;  con  ông  Vô  danh  và bà Lư Thị N; Chưa có vợ; tiền sự: Ngày 26/11/2016 TAND Quận 12 xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; tiền án: Ngày 06/5/2014,  Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 88/2014/HSST); bị bắt tạm giam ngày: 21/11/2017; (Có mặt).

Bị hại: - Anh Trần Quang H, sinh năm: 1977; HKTT: số 12 đường L, Phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 28/5/2016 anh Trần Quang H đang uống cà phê tại quán Moro Phường M, quận G thì gặp Lư Văn Quang T. Tại đây T hỏi mượn anh H chiếc xe gắn máy biển số 54P7 – 6108 để đi chuộc chiếc điện thoại của T, anh H đồng ý cho mượn xe. Sau khi chuộc điện thoại xong T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh H nên lấy đem bán cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) ở huyện U với giá 3.000.000 đồng tiêu xài hết và bỏ trốn khỏi địa phương.

Ngày 30/5/2016 anh Trần Quang H đến trình báo sự việc cho Công an Phường M, quận G.

Ngày 26/11/2016 Triệu bị Công an phường N, quận M bắt về hành vi sử dụng ma túy và bị đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Ngày 13/12/2017 anh Trần Quang H có đơn yêu cầu Lư Văn Quang T bồi thường chiếc xe trị giá 8.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Lư Văn Quang T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ: Không

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 247/KL ngày 16/11/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận: Giá trị chiếc xe gắn máy biển số 54P7 – 6108 số máy C12E-1078591, số khung Y-078604 đã qua sữ dụng trị giá 6.000.000 đồng. (định giá qua hồ sơ)

Tại bản cáo trạng số 14/CTr-VKS, ngày 03/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Lư Văn Quang T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự.

Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, khỏan 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao. Đối chiếu với điều luật của Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 thì mức hình phạt của Bộ luật hình sự năm 1999 có lợi cho bị cáo nên viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khỏan 1 Diều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực thi hành;

- Xử phạt bị cáo Lư Văn Quang T từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

- Buộc bị cáo bồi thường lại số tiền 8.000.000 đồng cho anh Trần Quang H.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Lư Văn Quang T đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và  người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Lư Văn Quang T đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 140 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài, phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội hết sức táo bạo và liều lĩnh, lợi dụng lòng tin của người bị hại tin tưởng giao tài sản cho bị cáo để chiếm đoạt và bỏ trốn bất chấp hậu quả xảy ra. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Xét nhân thân bị cáo xấu đã từng bị xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án, lần phạm tội này là tái phạm được quy định tại điểm g khỏan 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, cần thiết phải có mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tội lỗi của bị cáo nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo trở thành người tốt hơn cho xã hội, sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, đồng thời cũng nhằm để có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 140 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay bị hại anh Trần Quang H vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện yêu cầu bị cáo bồi thường trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.000.000. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy đây là yêu cầu và sự thỏa thuận tự nguyện không trái pháp luật nên ghi nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Không có

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lư Văn Quang T (B) phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 140; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khỏan 1 Điều 48; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999;

Xử phạt bị cáo Lư Văn Quang T (B) 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/11/2017.

Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Buộc bị cáo Lư Văn Quang T bồi thường cho anh Trần Quang H số tiền 8.000.000 (Tám triệu) đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Áp dụng khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Kể từ ngày anh Trần Quang H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thi hành khỏan tiền bồi thường nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được thực hiện theo quy định tại khỏan 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Việc thi hành án được thực hiện tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 400.000 (bốn trăm ngàn) đồng.

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


218
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2018/HS-ST ngày 29/01/2018 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:13/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về