Bản án 13/2018/HSST ngày 15/03/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 13/2018/HSST NGÀY 15/03/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2018/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/HSST - QĐ ngày 01 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn N, sinh ngày 05/02/1985. Tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi đang sinh sống: Thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; trình độ văn hoá: 6/12; con ông Hoàng Đức T (đã chết); con bà Nông Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Xấu; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2017 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nông Xuân V, sinh năm 1966; trú tại: Thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ 40 phút ngày 26/10/2017, tại khu vực Thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Nông Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ: 02 (hai) gói bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đỏ, kèm theo sim; 01 (một)chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE mang BKS: 12K6 - 4859.

Tại bản kết luận giám định số 364/KL - PC54 ngày 28/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong hai gói giấy gửi giám định đều là chất ma túy Heroine có tổng trọng lượng là 0,195 gam (đã trừ bì).

Tại bản cáo trạng số 14/CT - VKS ngày 05/02/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu ở trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nông Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 để áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nông Văn N mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam;

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là người nghiện ma túy, gia đình thuộc hộ nghèo, bản thân không có tài sản gì có giá trị.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong đựng chất ma túy đã qua giám định ký hiệu “QT Nông Văn N”.

Trả lại bị cáo Nông Văn N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đỏ đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim Viettel và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE mang BKS: 12K6 - 4859.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Vào hồi 14 giờ 40 phút ngày 26/10/2017, tại khu vực Thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Nông Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,195 gam chất ma túy Heroine, mục đích để sử dụng. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

[3] Về áp dụng pháp luật: Bị cáo phạm tội vào ngày 26/10/2017 trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 có hiệu lực. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 thấy rằng hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định có lợi hơn so với khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Cụ thể tại khoản 1 Điều 249 có khung hình phạt cao nhất là 05 năm tù còn tại khoản 1 Điều 194 có khung hình phạt cao nhất là 07 năm tù. Do vậy, theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử lý đối với bị cáo.

[4] Bị cáo Nông Văn N nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có ma túy sử dụng cho bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến trật tự, an ninh. Ma tuý là các hỗn hợp chất hoá học, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp nhân tạo, gây kích thích hoặc ức chế thần kinh. Khi ma tuý xâm nhập vào cơ thể, có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, khiến con người bị lệ thuộc vào nó. Ma tuý không chỉ huỷ hoại sức khoẻ mà còn làm suy thoái nòi giống, tàn phá phẩm giá và nhân cách của con người. Hành vi của bị cáo gây hoang mang cho gia đình và xã hội; gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh trong khu vực. Do đó, khilượng hình cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm mục đích cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng về nhân thân: Ngày 30/9/2014 bị cáo Nông Văn N bị Tòa án nhân dân huyện V ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trung tâm chữa bệnh lao động xã hội tỉnh Lạng Sơn cai nghiện bắt buộc 24 tháng, ngày 15/10/2016 chấp hành xong đến nay đã hết thời hiệu nhưng bị cáo Nông Văn N vẫn là người có nhân thân xấu; về tình tiết tăng nặng: Không có; về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, có căn cứ cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh ngày 02/11/2017 cho thấy bị cáo hiện là người nghiện ma túy, gia đình thuộc hộ nghèo, bản thân không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nông Văn N.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Hội đồng xét xử thấy: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong đựng chất ma túy đã qua giám định ký hiệu “QT Nông Văn N” là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

Tịch thu, tiêu hủy; Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đỏ đã qua sử dụng, bên trong nắp 01 (một) sim Viettel và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE mang BKS: 12K6 -4859 không phải là vật chứng. Trả lại cho bị cáo Nông Văn N.

[8] Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát về hình phạt và xử lý vật chứng thấy rằng đề nghị mà vị đại diện Viện kiểm sát đưa ra là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[9] Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáobản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo Nông Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nông Văn N 18 (mười tám) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/10/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong đựng chất ma túy đã qua giám định ký hiệu “QT Nông Văn N”.

Trả lại cho bị cáo Nông Văn N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đỏ đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim Viettel và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE mang BKS: 12K6 - 4859.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 12/02/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, khoản 1 Điều 22, Điều 24 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nông Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


75
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về