Bản án 13/2018/HS-ST ngày 06/03/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 13/2018/HS-ST NGÀY 06/03/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Thế M, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1997 tại Hà Tĩnh.

ĐKHKTT: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh D; chỗ ở: phường B1, quận C1, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H, sinh năm 1970 và bà: Phan Thị A, sinh năm 1975; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt quả tang ngày 08/12/2017; áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 09/12/2017; tạm giam từ ngày 10/12/2017; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụán được tóm tắt như sau:

Do buồn chán chuyện gia đình nên khoảng 15 giờ ngày 08/12/2017, Trần Thế M đi bộ từ đường Lê Lợi đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, M mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý hết 200.000 đồng và cất gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải rồi đi về quán Internet ở số 25 Lê Lợi, phường Máy Tơ để chơi điện tử. Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày, M bị Cơ quan Công an bắt quảt ang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ tại túi quần bên phải phía trước của M 01 gói nilon, kích thước 2x2 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số 1154/KLGĐ ngày 12/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định (thu giữ của Trần Thế M), có trọng lượng 1,1357 gam, là loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 26/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trần Thế M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Thế M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Do nghiện ma túy đá nên bị cáo đã đi mua Methamphetamine về sử dụng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên toà giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thế M mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự .

Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong số 1154/PC54 của Phòng kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng16 giờ 15 phút ngày 08/12/2017, bị cáo Trần Thế M đã có hành vi cất giữ trái phép 1,1357 gam Methamphetamine trên người để sử dụng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Thế M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Trần Thế M về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn xâm phạm trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[2] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong số 1154/PC54 của Phòng kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố; thủ tục giám định trong Tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong vụ án này còn có người đàn ông bán ma túy cho Trần Thế M, chưa xác định được lai lịch địa chỉ nên tách ra xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Thế M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Trần Thế M 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 08/12/2017.

Tạm giam bị cáo Trần Thế M 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1154/PC54 của Phòng kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Hải Phòng theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/01/2018.

- Về án phí: Bị cáo Trần Thế M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

- Quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Trần Thế M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


110
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2018/HS-ST ngày 06/03/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:13/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về