Bản án 130/2018/HNGĐ-ST ngày 05/07/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 130/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/07/2018 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 05 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố CàMau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 511/2018/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2018, về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 422/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2018, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số 74B/115, H TK, khóm T, phường B, thành phố C (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1977 Địa chỉ: Số 74B/115, H TK, khóm T, phường B, thành phố C (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải ngày 22 tháng 6 năm 2018 và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Hồng T trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh H chungsống vào năm 1995, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, nay chị nhận thấy cả hai không thể chung sống với nhau được nữa nên chịyêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị T xác định có hai người con tên Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1996; Nguyễn T V, sinh năm 1998, hiện nay hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị T xác định không có.

Về nợ chung: Chị T xác định không nợ ai và cũng không ai nợ lại.

Tại biên bản hòa giải ngày 22 tháng 6 năm 2018 và tại phiên tòa, anh Nguyễn Thanh H trình bày: Về thời gian chung sống, vợ chồng không đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn đúng như chị T trình bày. Nay chị T xin hôn anh đồng ý.

Về con chung: Anh H xác định có hai người con chung tên Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1996; Nguyễn T V, sinh năm 1998 đúng như chị T trình bày hiện nay các con đã trưởng thành nên khi ly hôn anh không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh H xác định không có.

Về nợ chung: Anh H xác định không nợ ai và cũng không ai nợ lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp về hôn nhân gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

 [2] Chị Trần Thị Hồng T và anh Nguyễn Thanh H chung sống với nhau vào năm 1995, quá trình chung sống đến nay tuy đủ điều kiện kết hôn nhưng anh, chị cũng không đăng ký kết hôn theo luật định nên căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì việc kết hôn trên không được đăng ký theo quy định là không có giá trị pháp lý. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, chị T xác định do vợ chồng có mâu thuẫn với nhau, bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau hiện chị không còn tình cảm đối với anh H nên không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Mặc khác anh H cũng xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn nên đồng ý chấm dứt mối quan hệ hôn nhân theo yêu cầu của chị T. Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh H là thực tế có xảy ra. Đồng thời, do hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

 [3] Về con chung: Chị T và anh H xác định có hai con chung tên Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1996; Nguyễn T V, sinh năm 1998. Hiện nay hai cháu đã trưởng thành đã trưởng thành tự nuôi sống bản thân được nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị T và anh H xác định không có nên không đặt raxem xét.

[5] Về nợ chung: Chị T và anh H xác định không có nên không đặt ra xemxét.

 [6] Chị T chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39,147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 9, 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Thanh H.

2. Về con chung : Đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung, chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Thanh H khai không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Chị Nguyễn Thị Hồng T pH nộp số tiền 300.000đ. Vào ngày 31/5/2018, Chị T đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0000850 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị T, anh H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


86
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về