Bản án 128/2017/HS-ST ngày 12/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 128/2017/HS-ST NGÀY 12/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 12 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2017/HS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 138/2017/HSST-QĐ ngày 29 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Hoàng Văn H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ Hoàng Văn H, mẹ đẻ Nguyễn Thị D, vợ là Nguyễn Thị Hồng Đ và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2017 cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Hoàng Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 26/7/2017, tổ công tác Công an phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên làm nhiệm vụ tại đường Tô Hiến Thành, thuộc tổ dân phố Đông Hưng, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thì phát hiện và bắt giữ Hoàng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm có: Thu tại tay phải của H 03 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng, vật chứng được niêm phong có ký hiệu A1; thu giữ tại túi quần bên trái đang mặc của H 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 02 gói giấy nhỏ có chứa chất bột màu trắng, vật chứng được niêm phong có ký hiệu A2. H khai nhận chất bột màu trắng trong các mẫu thu giữ có ký hiệu A1 và A2 là ma túy heroine của H, mục đích để sử dụng cho bản thân; thu giữ của H 01 xe máy nhãn hiệu Nakasei, biển kiểm sát: 88H6 - 0352.

Tại kết luận giám định số: 791/KLGĐ ngày 30/7/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng là 0,4494 gam có heroine; khối lượng heroine trong 0,4494 gam mẫu là 0,1533 gam; hoàn lại mẫu vật còn lại sau giám định của mẫu A1 là 0,2380 gam cùng toàn bộ bao gói. Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định có khối lượng là 0,2091 gam có heroine; khối lượng heroine trong 0,2091 gam mẫu là 0,0696 gam; hoàn lại mẫu vật còn lại sau giám định của mẫu A2 là 0,0630 gam cùng toàn bộ bao gói.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Hoàng Văn H khai nhận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 26/7/2017, H điều khiển xe máy biển kiểm soát 88H6 – 0352 đến ngã tư đèn xanh, đèn đỏ thuộc phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên vào quán nước ven đường để uống nước trà. Tại đây, H gặp nam thanh niên tên A (không rõ họ tên đệm và địa chỉ) là bạn bè xã hội của H. A đưa H 1.000.000đ và bảo đi mua ma túy về sử dụng chung. H cầm tiền rồi một mình điều khiển xe máy đến phố Đầm Vạc thuộc phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc mua được 05 gói ma túy của 01 người phụ nữ (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Khi H quay lại với mục đích đưa ma túy cho A để cùng sử dụng chung thì bị Công an phát hiện và bắt giữ như đã nêu trên.

Ti Cáo trạng số: 130/KSĐT-MT ngày 09/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ti phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên (bút lục 14 và từ bút lục 56 - 64).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 0,3010 gam ma túy heroine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định; xác nhận Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại 01 xe máy nhãn hiệu Nakasei, BKS: 88H6 – 0352 cho anh Nguyễn Quốc Minh là hợp pháp.

Bị cáo Hoàng Văn H không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Hoàng Văn H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 26/7/2017, tại đường Tô Hiến Thành thuộc tổ dân phố Đông Hưng, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Hoàng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 05 gói ma túy, khối lượng ma túy được giám định là 0,6585 gam có heroine. Khối lượng heroine trong 0,6585 gam mẫu là 0,2229 gam.

Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm tù.

Tuy nhiên, theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội được quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, thì hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên của bị cáo Hoàng Văn H đã phạm tội theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Như vậy, mặc dù tội danh và khoản của điều luật quy định là như nhau, nhưng hình phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 có phần nhẹ hơn nên được vận dụng và áp dụng để có lợi cho người phạm tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù nên theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Tc khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án tiền sự nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý. Mặt khác, hiện tại trên địa bàn các tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, đây là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết: “Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Đi với người nam giới tên Anh, bị cáo H khai đã đưa tiền để đi mua ma túy và người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo H. Quá trình điều tra bị cáo H khai không biết họ, tên đệm, tuổi và địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đối với vật chứng là vỏ bao thuốc là Thăng Long và số ma túy cùng bao gói ma túy còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Nakasei, biển kiểm soát: 88H6 - 0352, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Quốc Minh, anh Minh không biết bị cáo đã sử dụng chiếc xe máy làm phương tiện phạm tội, tài sản này Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Minh và anh Minh không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không đặt ra để xem xét và giải quyết.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/7/2017).

Áp dụng khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ bao thuốc là Thăng Long, 0,3010 gam ma túy heroine và toàn bộ bao gói ma túy còn lại sau giám định (Đặc điểm tang vật như biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/12/2017).

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


44
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về