Bản án 123/2019/HSST ngày 10/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN

BẢN ÁN 123/2019/HSST NGÀY 10/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 10 tháng 4 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thàn phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 112/2019/HSST ngày 28/02/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2019/QĐXXST-HS ngày 27/03/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn T, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19 tháng 05 năm 1976; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm ĐC, xã ĐL, thành phố TN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Đặng Văn Th (đã chết); Con bà: Vũ Thị M, sinh năm 1950; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Mạch Thị Ng1 đã ly hôn, con không có. Tiền án, tiền sự: Không Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2019 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng: Ông Ngô Mạnh T, sinh năm 1962 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 01, phường Gia Sàng, TP TN, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 8 giờ 15 phút ngày 16/01/2019, tổ công tác của Công an phường Gia Sàng, thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 2, phường Gia Sàng, thành phố TN thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Khi tổ công tác tiếp cận yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên tự khai tên Đặng Văn T, Tấn tự giác giao nộp 01 gói được gói bằng giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 03 gói nhỏ giấy màu trắng, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột màu trắng từ lòng bàn tay bên phải của Tấn cho tổ công tác (Tấn khai là Heroine).

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng Văn T, niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày, tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ được của Đặng Văn T có khối lượng 0,376 gam. Tại bản kết luận giám định số 318/KL-PC09 ngày 24/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Tấn là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,376 gam.

Ti cơ quan điều tra Đặng Văn T khai nhận: Bản thân Tấn là người nghiện ma túy, khoảng 7 giờ 30 phút ngày 16/01/2019 Tấn đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà ở xóm Đồng Cão, xã Đồng Liên, thành phố TN tới Trung tâm thành phố TN để uống Methadone. Khi đi đến khu vực bờ hồ Gia Sàng, thành phố TN thuộc tổ 2, phường Gia Sàng, thành phố TN, Tấn nhìn thấy 01 nam thanh niên mới quen không biết rõ tên, lai lịch địa chỉ đang đứng ở bờ hồ Gia Sàng, Tấn bảo người lái xe ôm dừng lại cho Tấn xuống xe, Tấn đi bộ tới gần nam thanh niên đó, Tấn hỏi và mua của nam thanh niên đó 01 gói bằng giấy vệ sinh màu trắng bên trong có chứa 03 gói nhỏ chứa Heroine, vừa mua được Tấn cầm trong lòng bàn tay phải rồi đi ra rìa đường đứng đợi xe để tiếp tục đi tới Trung tâm y tế thành phố TN thì bị tổ công tác Công an phường Gia Sàng phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng như trên.

Li khai trên của Đặng Văn T phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T1. Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại tài khoản và kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN.

Tại bản cáo trạng số 114/CT-VKSTPTN, ngày 27/02/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố Đặng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Vt chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T1.

- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Văn T tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 8 giờ 15 phút ngày 16/01/2019, tại tổ 2, phường Gia Sàng, thành phố TN, Đặng Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,376 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Gia Sàng, thành phố TN phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Ti phạm và hình phạt của Đặng Văn T được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ni dung điều luật quy định như sau:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ......................................thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm c, Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS. Bị cóa không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

[5]. Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản gì riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[7]. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong có chứa Heroin.

[8]. Các vấn đề khác: Trong vụ án này, Tấn khai người xe ôm trở Tấn không quen biết, không biết lai lịch địa chỉ và không biết Tấn đi mua ma túy vì vậy không có cơ sở để xử lý. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Tấn khai mua của một nam thanh niên không không quen biết, do không xác định được lai lịch địa chỉ của người này nên Cơ quan không có căn cứ để xử lý.

[9]. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T: 18 (Mười tám) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/01/2019; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu T1 (Bì niêm phong chứa chất ma túy).

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 185 ngày 28/02/2019).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


62
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 123/2019/HSST ngày 10/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:123/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về