Bản án 12/2020/HSST ngày 28/04/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 12/2020/HSST NGÀY 28/04/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2020/TLST - HS ngày 04 tháng 4 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo.

Họ và tên: Lò Văn O, tên gọi khác: Không; sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt: Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Đảng phái đoàn thể: Không; Dân tộc: Thái; Con ông: Lò Văn K và bà Lò Thị V; có vợ Lò Thị T và 02 con, con lớn nhất 18 tuổi, con nhỏ nhất 12 tuổi.

Tiền án: Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2020 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/01/2020 Công an huyện Q làm nhiệm vụ tại khu vực xóm 4, xã M, huyện Q phát hiện bắt quả tang Lò Văn O có hành vi tàng trữ trái phép 0,08 gam Herroine và 0,1 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Vật chứng: Thu giữ 01 gói nilon màu trắng hàn kín bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp, 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ trong có chứa chất bột, cục nghi là Hêrôin.

Ngày 14/01/2020 Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La cân tịnh 01 gói chất bột, cục màu trắng và chất dạng nén mầu hồng nghi là ma túy thu giữ của Lò Văn O; xác định khối lượng số chất dạng nén màu hồng có tổng khối lượng là 0,1 gam lấy toàn bộ gửi giám định ký hiệu A1 và số chất cục, bột màu trắng có tổng khối lượng là: 0,08 gam lấy toàn bộ gửi giám định ký hiệu A2 .

- Tại bản kết luận giám định số: 218/KL - MT ngày 15/01/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy; loại Methamphetamine khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam và mẫu gửi giám định ký hiệu A2 là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam”. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu không sử dụng đến trong quá trình giám định thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu A1 và A2 có lượng A1 = 0,06gam, A2 = 0,05gam.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 12/01/2020 Lò Văn Oan từ nhà đến bản L, xã C, huyện Q bắt xe buýt đi Sơn La khám bệnh. Khoảng 18 giờ cùng ngày sau khi khám xong O ra ngoài cổng bệnh viện để bắt xe buýt, khi đi cách cổng khoảng 20m O gặp một người đàn ông không quen biết, qua nói chuyện O biết người đàn ông này ở xã T, huyện T, nên O hỏi và được người này bán cho gói ma túy với giá 300.000đ. O cất gói ma túy vào túi quần rồi bắt xe buýt xuống bến xe Sơn La ngủ qua đêm tại đó. Sáng ngày 13/01/2020 O quay về Q thăm người thân. O xuống xe tại xóm 4, xã M, huyện Q, khi đang trên đường vào nhà người thân thì bị Công an huyện Q phát hiện Lò Văn O cất giấu ma tuý nên đã bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT - KSĐT ngày 03/4/2020 của Viện kiểm sát nhân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố Lò Văn O về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn O phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Đề nghị Hội đồng xét xử; Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn O 13 (Mười ba) đến 16 (Mười sáu) tháng tù. Không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

Tiêu hủy: - 01 phong còn nguyên niêm phong bên trong đựng: 01 vỏ túi nilon màu trắng + 01 vỏ nilon màu trắng + 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.

- 01 phong còn nguyên niêm phong bên trong đựng: Mẫu không sử dụng đến trong quá trình giám định thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu A1 và A2 có lượng A1 = 0,06gam, A2 = 0,05gam.

- 01 phong còn nguyên niêm phong bên trong đựng: 01 que thử ma túy của Lò Văn O.

Buộc bại cóa O phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xưn xét căn cứ toàn diện chứng cứ , ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với các căn cứ khác: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng chất ma túy, loại Heroine thu giữ là 0,08gam và 01 viên dạng nén màu hồng, là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1 gam”. Tổng trọng 02 chất ma túy là 0,09 gam. Bị cáo khai mục đích mua để sử dụng cho bản thân.

[3] Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 13/01/2020 Công an huyện Q bắt quả tang Lò Văn O, sinh năm 1976 đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Bản Coi, xã Mường Sại, huyện Q, tỉnh Sơn La về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua hai loại chất ma túy là Heroine và Methamphetamine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù. Do vậy; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, bị cáo có bố là ông Lò Văn K có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[7] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề trồng trọt, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo O khai là mua với 01 người đàn ông không quen biết tại bên ngoài cổng bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La vào ngày 12/01/2020 nhưng O không biết họ tên và địa chỉ cụ thể. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện Q không có cơ sở điều tra xác minh. Do đó buộc bị cáo Lò Văn O phải chịu trách nhiệm toàn bộ số Heroine 0,08 gam và 01 viên nén màu hồng là ma túy, loại Methamphetamine là 0,1 gam thu giữ nêu trên.

[9] Vật chứng vụ án: 01 phong còn nguyên niêm phong bên trong đựng: 01 vỏ túi nilon màu trắng + 01 vỏ nilon màu trắng  + 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 phong còn nguyên niêm phong bên trong đựng: Mẫu không sử dụng đến trong quá trình giám định thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu A1 và A2 có lượng A1 = 0,06gam, A2 = 0,05gam;

01 phong còn nguyên niêm phong bên trong đựng: 01 que thử ma túy của Lò Văn Oan, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Lò Văn O phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên: 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn O phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn O 15(Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2020.

Không phạt tiền đối với bị cáo.

2/ Vt chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tiêu hủy:

- 01 phong còn nguyên niêm phong bên trong đựng: 01 vỏ túi nilon màu trắng + 01 mảnh nilon màu trắng + 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ + phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.

- 01 phong còn nguyên niêm phong bên trong đựng: Mẫu không sử dụng đến trong quá trình giám định thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu A1 và A2 có lượng A1 = 0,06gam, A2 = 0,05gam.

- 01 phong còn nguyên niêm phong bên trong đựng: 01 que thử ma túy của Lò Văn O.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng số 18/2020 ngày 02/4/2020 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Nhai).

3/ Về án phí: Áp dụng Điều 135 BLTTHS và Điu 21, 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án - Bị cáo Lò Văn O phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 28/4/2020.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2020/HSST ngày 28/04/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:12/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quỳnh Nhai - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về