Bản án 12/2020/HNGĐ-ST ngày 17/06/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

BẢN ÁN 12/2020/HNGĐ-ST NGÀY 17/06/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 17 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 47/2019/TLST-HNGĐ ngày 17/02/2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Ngọc Á, sinh năm 1970. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1967. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ 01, phường Tr, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 13 tháng 02 năm 2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hồ Thị Ngọc Á trình bày: Bà Hồ Thị Ngọc Á với ông Nguyễn Thanh H chung sống với nhau và có tổ chức lễ cưới hỏi vào tháng 9 năm 1987 nhưng không đi đăng ký kết hôn, vì lúc đó bà Á chưa đủ tuổi kết hôn. Sau khi cưới, bà Á và ông H sống tại thôn 01, xã H, thành phố K, tỉnh Kon Tum đến năm 2004 thì xã Hòa Bình tách ra thuộc tổ 01, phường Tr, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Cuộc sống chung giữa bà và ông H không hạnh phúc và ông H không tu chí làm ăn, cờ bạc, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, không còn tình cảm với nhau. Bà Hồ Thị Ngọc Á vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

Về con chung: Ông bà có 05 con chung là Nguyễn Thị Như Tr, sinh năm 1988, Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1989, Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1992, Nguyễn Thị Hoài Th, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1997. Các con đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 06/4/2020 bị đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày: Ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Ngọc Á có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau từ năm 1987 cho đến nay, nhưng không đi đăng ký hôn do lúc đó bà Á chưa đủ tuổi kết hôn như bà Á trình bày là đúng. Ông H và bà Á sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, do công việc không ổn định, nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã và hai bên đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Bà Á yêu cầu ly hôn, ông H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung đúng như bà Á đã trình bày và các con chung đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 : Tuyên xử không công nhận bà Hồ Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Thanh H là vợ chồng. Về con chung đã trưởng thành nên không giải quyết, tài sản chung các đương sự không yêu cầu, nên không đề cập. Về án phí bà Hồ Thị Ngọc Á phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tụng tố tụng:

Bà Hồ Thị Ngọc Á có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum giải quyết yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh H có nơi cư trú tại tổ 01, phường Tr, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai cho ông Nguyễn Thanh H tham gia phiên tòa sơ thẩm, nhưng ông H vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Thanh H.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của Bà Hồ Thị Ngọc Á thấy rằng:

Bà Hồ Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Thanh H chung sống với nhau từ tháng 9 năm 1987 và đã có với nhau 05 con chung nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền là đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc chung sống giữa bà Hồ Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Thanh H không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tuyên bố: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” giữa bà Hồ Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Thanh H.

Về con chung: Có 05 con chung là Nguyễn Thị Như Tr, sinh năm 1988, Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1989, Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1992, Nguyễn Thị Hoài Th, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1997. Các con đã trường thành và có khả năng lao động, nên không đề cập đến.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[3]. Về án phí: Bà Hồ Thị Ngọc Á phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 235, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 264, Điều 267 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự  Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 .Căn cứ Điều 6, khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Hồ Thị Ngọc Á và ông Nguyễn Thanh H là vợ chồng.

2. Về con chung: Các con chung đều đã trưởng thành, nên không giải quyết.

3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Ngọc Á phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Hồ Thị Ngọc Á đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002201 ngày 13/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum. Bà Hồ Thị Ngọc Á đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17-6-2020). Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


36
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về