Bản án 12/2019/HS-ST ngày 30/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 12/2019/HS-ST NGÀY 30/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 30 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2019/TLST-HS ngày 17 tháng01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng Gi, sinh năm 1985, tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn BS, xã TS, huyện KB, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Trọng N, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Hoài P, sinh năm 1965; có vợ: Phạm Thị Thu K, sinh năm 1988; con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2018đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Đỗ Sơn T, sinh năm 1993; địa chỉ: Tiểu khu 1, thị trấn KK, huyện TL,tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Phạm Văn A, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố TP, phường CS, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Ông Lại Xuân C, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ dân phố HĐ, phường CS, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/12/2018, Nguyễn Trọng Gi đang rửa xe ô tô tại quán của anh Đỗ Sơn T thì có một người đàn ông (Gi không rõ địa chỉ, lai lịch) gọi điện thoại cho Gi nói: “ Anh em mình giao lưu”. Hiểu ý người này rủ mua ma túy để cùng sử dụng nên Gi đồng ý. Gi mượn xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS:90B2-150.63 của anh T đi đến tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thànhphố Phủ Lý để mua ma túy. Gi gặp một người đàn ông lái xe ôm nói: “ Anh lấy hàng hộ em”, người này đồng ý. Gi lấy 250.000đ đưa cho người xe ôm, người này cầm tiền đi một lúc sau quay lại đưa cho Gi 01 gói giấy bạc màu trắng rồi bỏ đi. Gi mở ra kiểm tra thấy bên trong gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng dạng cục. Biết là ma túy Gi cất vào túi áo ngực bên trái rồi điều khiển xe mô tô BKS 90B2-150.63 về cổng chợ Châu Sơn thì dừng lại. Gi lấy gói ma túy từ áo ngực ra và để lên giải phân cách đường cạnh chỗ Gi đứngthì ngay lúc này lực lượng công an

phường Châu Sơn phát hiện yêu cầu kiểm tra. Gi tự nhặt gói ma túy lên, giao nộp cho lực lượng công an. Mở ra kiểm tra thấy bên trong gói giấy bạc màu trắng có chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ Gi khai nhận đó là gói ma túy Gi vừa mua mục đích để sử dụng.

- Vật chứng thu giữ:

+ 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen.

+ Số tiền 730.000đ.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS: 90B2-150.63.

Tại bản kết luận giám định số 202/PC09-MT ngày 19/12/2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,130gam, loại Heroine”.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trọng Gi không thu giữ, đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS-PL ngày 16 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Trọng Givề tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dânthành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam luận tội:Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Trọng Gi theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì đối với nội dung vụ án. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Gi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Gi mức ántừ 15 đến 18 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen; trả lại Nguyễn Trọng Gi số tiền 730.000 đồng không liên quan đến vụ án song giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo không tranh luận, không bào chữa và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Đánh giá về tội danh: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Trọng Gi đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai củangười có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kết luận giám định của cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, Hội đồng xét xửcó đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 17 giờ ngày 15 tháng 12 năm 2018, tại tổ dân phố Do Nha, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Trọng Gi đã cất giấu trái phép 0,130 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng công an phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của Nguyễn Trọng Gi đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

 [3] Đánh giá về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bị cáo mà còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố Phủ Lý, đồng thời là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, tội phạm nguy hiểm khác, gây bất bình sâu sắc trong quần chúng nhân dân.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, không có mục đích kiếm lời nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [4] Xử lý vật chứng:

- Đối với toàn bộ số ma túy cùng bao gói thu giữ của Nguyễn Trọng Gi cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn xanh đen BKS: 90B2-150.63 thu giữ của Nguyễn Trọng Gi. Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý xác định chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Đỗ Sơn T. Khi cho Gi mượn xe máy anh T không biết Gi sử dụng chiếc xe máy của mình vào mục đích phạm tội. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại chiếc xe cho anh Đỗ Sơn T là phù hợp pháp luật.

- Đối với chiếc điện thoại di động Nokia thu giữ của Nguyễn Trọng Gi quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Gi, Gi đã sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội vì vậy cần phải tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 730.000đ thu giữ của Nguyễn Trọng Gi không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho Gi, song tạm giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

 [5] Đánh giá các tình tiết khác của vụ án:

- Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Nguyễn Trọng Gi, Gi khai mua của một người đàn ông lái xe ôm khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ ở đâu gặp ở khu vực ngã tư cầu Châu Sơn thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã phối hợp với công an phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người đã bán ma túy cho Gi. Ngoài lời khai của Gi thì không có tài liệu khác chứng minh Gi mua ma túy như thế nào. Do vậy chưa có căn cứ xử lý người bán ma túy cho Gi trong vụ án này.

- Đối với người đàn ông gọi điện cho Gi rủ mua ma túy cùng sử dụng, Gi khai là người đi nhờ xe của Gi, nhưng Gi không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Do vậy không có cơ sở để xử lý trong vụ án này.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩmtheo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50;Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Gi phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[2] Xử phạt Nguyễn Trọng Gi 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2018.

[3] Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong số 202/PC09-MT mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả QT01 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen (đã cũ).

- Trả lại cho Nguyễn Trọng Gi số tiền 730.000đ song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 21/01/2019giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý và Ủy nhiệm chi số 06 ngày 22/01/2019).

[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Gi phải nộp 200.000đ. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáođược quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ ánvắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2019/HS-ST ngày 30/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:12/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về