Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 19/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY - TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 19 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2018/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2018 về Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXX-ST ngày 19 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ái T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số 1, ấp H, xã T, thị xã T, tỉnh B .(Có mặt)

- Bị đơn: Anh Huỳnh Hữu H, sinh năm 1973.

Địa chỉ: ấp S, xã T, thị xã N, tỉnh H. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 28/3/2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ái T và anh Huỳnh Hữu H tổ chức lễ cưới vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh N. Quá trình chung sống vợ chồng, anh H không lo lắng cho vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt và sống ly thân từ tháng 7/2015 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Nguyễn Thị Ái T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Hữu H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Huỳnh Ngọc Bảo C, giới tính: Nữ; sinh ngày: 15/12/2012. Nay vợ chồng ly hôn chị Nguyễn Thị Ái T xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu C và không yêu cầu anh Huỳnh Hữu H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập bị đơn anh Huỳnh Hữu H nhiều lần nhưng vắng mặt, tại phiên tòa hôm nay bị đơn không gửi văn bản ý kiến của mình và vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm Phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, Điều 81 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ái T với anh Huỳnh Hữu H; Về con chung: Giao con chung cho chị Nguyễn Thị Ái T nuôi dưỡng; Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ái T phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Huỳnh Hữu H, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H, Tòa án đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Huỳnh Hữu H vắng mặt nên Tòa án đã Quyết định hoãn phiên tòa và đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Huỳnh Hữu H nhưng tại phiên tòa hôm nay anh Huỳnh Hữu H vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ái T và anh Huỳnh Hữu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình theo giấy chứng nhận kết hôn số 88/2011, quyển số 01, ngày 09/12/2011 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh N. Trong quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Thị Ái T và anh Huỳnh Hữu H có phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay tự ai nấy sống không còn thương yêu, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hòa giải để tạo điều kiện để hàn gắn nhưng anh Huỳnh Hữu H không đến Tòa án, như vậy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Nguyễn Thị Ái T xin ly hôn với anh Huỳnh Hữu H là có căn cứ, phù hợp với tình trạng hôn nhân của vợ chồng, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái T được ly hôn với anh Huỳnh Hữu H.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Huỳnh Ngọc Bảo C hiện đang sống với chị T. Để đảm bảo môi trường sống và học tập của cháu C Hội đồng xét xử giao cháu C cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu C đủ 18 (Mười tám) tuổi. Anh Huỳnh Hữu H không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho anh Huỳnh Hữu H không ai được quyền ngăn cản.

[4]. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[5].Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[6]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ái T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 4 Điều 147, Khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái T được ly hôn bị đơn anh Huỳnh Hữu H.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Ngọc Bảo C, giới tính: Nữ; sinh ngày: 15/12/2012 cho chị Nguyễn Thị Ái T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các C đủ 18 (Mười tám) tuổi. Anh Huỳnh Hữu H không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho anh Huỳnh Hữu H không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

5. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0015038 ngày 28/3/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị T không phải nộp thêm.

Trong trường hợp Bản án, Quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự - thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái T được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Huỳnh Hữu H được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Tân Thành./.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 19/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ngã Bảy - Hậu Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về