Bản án 12/2017/HS-ST ngày 13/06/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM

BẢN ÁN 12/2017/HS-ST NGÀY 13/06/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 13/6/2016, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/HSST ngày 15/5/2017 đối với bị cáo: Lê Chí V, sinh ngày 18/8/2000, tại Kon Tum; trú tại: Khối 7, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Lê Chí Á và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà. Tính đến ngày phạm tội, bị cáo 16 tuổi 3 tháng 24 ngày.

Ngưi đi diện hợp pháp cho bị cáo Lê Chí V: Bà: Nguyễn Thị H (mẹ ruột), trú tại: Khối 7, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Chí V: Ông Đinh Văn Hiến, Luật sư, Văn phòng luật sư Văn Hiến, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kon Tum. Có mặt.

Người bị hại: Anh Nguyễn Thanh Ha, trú tại: Khối 7, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

Người có quyền lợi N vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Hồng P; Trú tại: Tổ 1, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Nhật V, sinh ngày 17/01/2001; Trú tại: Khối 7, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

Người đi diện hợp pháp của Nguyễn Nhật V: Bà Lê Thị Ha (mẹ ruột), trú tại: Khối 7, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

3. Phan Phước Công N, sinh ngày 01/10/1999, trú tại: Khối 7, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

Ngưi đi diện hợp pháp của Phan Phước Công N: Bà Lê Thị T (mẹ ruột), trú tại: Khối 7, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lê Chí V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 12/12/2016, Lê Chí V rủ Nguyễn Nhật V đi trộm cắp tài sản thì Nguyễn Nhật V đồng ý. Trên đường đi, Lê Chí V thấy nhà anh Nguyễn Thanh Ha mở cửa, không có người nên nói Nguyễn Nhật V đứng ở ngoài canh chừng, còn Lê Chí V vào nhà lấy trộm một chiếc máy vi tính xách tay. Sau khi trộm cắp được tài sản, Lê chí V cùng Nguyễn Nhật V đem tài sản trộm cắp đến thành phố Kon Tum để bán. Do không có tiền đi xe nên Lê Chí V đã gặp Phan Phước Công N để mượn tiền, nhưng không có, nên Lê Chí V đã mượn điện thoại di động của N đi cầm cố tại cửa hàng điện máy Việt Dũng. Sau đó, Lê Chí V và Nguyễn Nhật V bắt xe bus đến thành phố Kon Tum bán máy vi tính xách tay cho tiệm sửa chữa máy vi tính của anh Nguyễn Hồng P với giá 1.200.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐGTS ngày 12/01/2017, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đăk Tô, thì chiếc máy tính xách tay có giá trị là 3.000.000 (ba triệu) đồng.

Tại bản cáo trạng số 13/KSĐT-TA ngày 12/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, truy tố bị cáo Lê Chí V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 điều 138; các điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các điều kiện về xử lý người chưa thành niên phạm tội để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 12/12/2016, Lê Chí V cùng Nguyễn Nhật V trộm cắp của anh Nguyễn Thanh Ha một chiếc máy vi tính xách tay HP Compaq Presario CQ35- 160TU giá trị là 3.000.000 đồng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Trọng vụ án này, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm, không có tổ chức, bị cáo tham gia với vai trò là người chủ mưu và thực hành. Phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi dục người chưa thành niên phạm tội”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, xã hội tại địa phương, cần pHa xử phạt mức án cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Song cũng xét thấy, sau khi phạm tội, bị cáo đã khắc phục hậu quả (đã chuộc lại chiếc máy vi tính trả lại cho người bị hại); phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội (khi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 3 tháng 24 ngày) nên nhận thức về hành vi phạm tội còn hạn chế cần được xem xét giảm nhẹ đặc biệt theo quy định tại Điều 69 và Điều 73 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo với xã hội cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo thành người tốt. Bị cáo là người chưa thành niên, không có tài sản nên không bị khấu trừ thu nhập.

Tuy bị cáo là người chưa thành niên nhưng đã sớm bỏ học, nghiện chơi game, khi không có tiền chơi game thì trộm cắp nên không thể chấp nhận ý kiến của người bào chữa đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đối với Nguyễn Nhật V là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với bị cáo. Do Nhật V chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên Công an huyện Đăk Tô xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

Anh Nguyễn Hồng P là người mua chiếc máy vi tính nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có, nên anh P không pHa chịu trách nhiệm hình sự. Anh P không có yêu cầu bồi thường nên Tòa án không xem xét.

Anh Phan Phước Công N là người cho bị cáo và Nguyễn Nhật V mượn điện thoại di động. Bị cáo mang đi cầm cố lấy tiền đi xe để bán chiếc máy vi tính nhưng anh N không biết nên không xem xét trách nhiệm hình sự. Anh N không có yêu cầu bồi thường nên Tòa án không xem xét.

Chị Nguyễn Thị Lệ là người nhận thế chấp chiếc điện thoại di động, không liên quan đến vụ án nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thanh Ha đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Bị cáo pHa chịu án phí theo quy định của pháp luật. Do bị cáo là người chưa thành niên nên bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột) pHa nộp án phí thay cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Chí V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm n khoản 1 Điều 48; Điều 69 và Điều 73 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Chí V 9 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

iao bị cáo Lê Chí V cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.

Ông Lê Chí Á và bà Nguyễn Thị H (cha, mẹ của bị cáo) có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên không bị khấu trừ thu nhập. Về án phí: Căn cứ điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Chí V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, N vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, N vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án. Những người vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pHa thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự


121
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2017/HS-ST ngày 13/06/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:12/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Tô - Kon Tum
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/06/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về