Bản án 118/2019/HS-ST ngày 04/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 118/2019/HS-ST NGÀY 04/09/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1987 tại H; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 34 T, phường T, quận L, H; tạm trú: Số 137/124 L, phường Đ, quận L, H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trung H và bà Thạch Thị Phi N; tiền án, tiền sự, nhân thân: Án số 123/2007/HSST ngày 23/8/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ ngày 26/4/2019, tạm giam ngày 02/5/2019; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 23 giờ 25 phút ngày 25/4/2019, tổ công tác Công an quận Lê Chân kết hợp cùng tổ công tác Công an phường Dư Hàng Kênh làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn, khi đến khu vực trước cửa nhà số 50/217 Miếu Hai Xã, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, Hải Phòng thì phát hiện thấy Hoàng Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Vision màu đỏ bạc đen, biển kiểm soát: 16M2-3338 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của T 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Sau đó, đã dẫn giải T cùng tang vật và chiếc xe máy về trụ sở Công an để làm việc. Tại trụ sở Công an phường Dư Hàng Kênh, tiến hành kiểm tra chiếc xe máy của T, thu giữ tại hốc chứa đồ bên trái của xe 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.

Tại Kết luận giám định số 176/KLGĐ(Đ6) ngày 30/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon thu giữ của T là ma túy, có khối lượng 0,6509gam, là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 25/4/2019, T gọi điện thoại cho H (không rõ căn cước, lai lịch) hỏi mua ma túy đá để sử dụng. H đồng ý và hẹn T đến khu vực ngõ 348 Hoàng Minh Thảo. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe máy đến điểm hẹn gặp và mua của Hùng 300.000đồng được 02 túi nilon ma túy đá, T cất 01 túi ma túy đá vào trong túi quần phía trước bên phải và 01 túi ma túy đá vào trong hốc chứa đồ bên trái xe máy rồi điều khiển xe đi về nhà, khi đến khu vực trước cửa nhà số 50/217 Miếu Hai Xã, phường Dư Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. Ngoài ra, còn khai: Trước đó đã mua ma túy đá của H khoảng 04 đến 05 lần, lần gần nhất cách ngày bị bắt giữ khoảng 03 ngày, T đã mua của H 100.000đồng ma túy đá tại khu vực ngõ 348 Hoàng Minh Thảo và đã sử dụng hết. T thường xuyên liên lạc với H để mua ma túy bằng chiếc điện thoại Nokia nhưng chiếc điện thoại đó đã bị rơi mất.

Tại Cáo trạng số 120/CT-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T mức án 24 - 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Masstel đã thu giữ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi phạm tội:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 25/4/2019, tại khu vực trước cửa nhà số 50/217 Miếu Hai Xã, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, Hải Phòng, Hoàng Văn T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,6509gam (không phẩy sáu năm không chín gam) Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; làm suy thoái đạo đức, lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác. Methamphetamine là chất ma tuý độc hại, được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị, nhưng để thoả mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý cất giữ trái phép để sử dụng; tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và quyết tâm phạm tội cao. Nhân thân bị cáo có 01 tiền án, tuy đã được xóa án tích nhưng qua đó cũng cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém, bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[6] Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ;

[7] Đối với 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Masstel, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, sử dụng trong sinh hoạt, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về các vấn đề khác:

[8] Việc T khai trước ngày bị bắt đã mua ma túy đá của Hùng khoảng 04 đến 05 lần, ngoài lời khai của T không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ kết luận.

[9] Đối với đối tượng H bán ma túy đá cho T, do T không nhớ số điện thoại của Hùng và điện thoại mà T liên lạc với Hùng đã bị mất không thu hồi được, kiểm tra đối với điện thoại Masstel đã thu giữ của T thì không còn lưu danh sách cuộc gọi, việc thu giữ thư tín điện tín với điện thoại này chưa có kết quả nên chưa xác định được căn cước lai lịch của đối tượng H, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục làm rõ xử lý sau.

[10] Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát: 16M2-3338 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra, xác minh chiếc xe có số khung, số máy là nguyên thủy, đăng ký chủ xe là anh Nguyễn Quốc B, sinh năm 1953, trú quán: Khu 4 Q, huyện Q, T và biển kiểm soát của chiếc xe này là 17B5-016.16. Anh B khai, chiếc xe trên là của anh, anh đã bị mất trộm vào ngày 19/4/2019 tại khu vực huyện Q, T nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã làm thủ tục bàn giao lại chiếc xe cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, T thụ lý giải quyết. Còn đối với biển kiểm soát: 16M2-3338, đăng ký chủ xe là anh Trần Lập L, địa chỉ: Số 259 H, quận L, H, hiện chưa xác định được người có tên Trần Lập L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục làm rõ xử lý sau.

- Về án phí:

[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 26 tháng 4 năm 2019.

Về xử lý tang vật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói.

Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động màu đen, dạng bàn phím, nhãn hiệu MASSTEL, số imei: 1:355868062098638 thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

(Theo đúng Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 06 tháng 8 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 118/2019/HS-ST ngày 04/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:118/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 04/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về