Bản án 11/2020/HS-ST ngày 07/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 11/2020/HS-ST NGÀY 07/02/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo:

Trần Văn K, sinh năm 1992 tại Hà Nam; tên gọi khác: không; nơi cư trú: Thôn T, xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N, sinh năm 1963 và bà Trần Thị T, sinh năm 1966; vợ: Nhữ Thị H, sinh năm 1995; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/6/2011 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2019 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Văn N, sinh năm 1963; trú tại: Thôn T, xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam; có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Trần Nam T, sinh năm 1979; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2019, Trần Văn K điều khiển xe mô tô BKS 90B2-372.76 đi từ nhà đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam để uống thuốc Methadone thì gặp bạn nghiện mới quen tên Hùng, khoảng 30 tuổi, nhà ở thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Tại đây Hùng bảo K “bạn có tiền không? Anh em mình góp vào mua quả hàng chơi”. K hiểu ý Hùng rủ góp tiền mua ma túy để sử dụng. K đưa cho Hùng 50.000 đồng, Hùng cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi sau. Khi đến khu vực xóm 2, xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý thì Hùng dừng lại bảo K đứng đợi, rồi Hùng điều khiển xe mô tô đi khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho K 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và nói “bạn cầm lấy hàng để mình đi mua xi lanh về sử dụng” rồi bỏ đi. K biết bên trong vỏ bao thuốc lá có ma túy nên không kiểm tra mà cầm cất vào túi áo khoác bên ngoài đang mặc thì bị lực lượng công an đến yêu cầu kiểm tra, K tự giác giao nộp cho lực lượng công an 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, kiểm tra bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng dạng cục. K khai nhận đó là gói ma túy của K cất giữ để sử dụng.

Thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ màu đen; 01 xe mô tô BKS 90B2-372.76.

Ngày 28/11/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Trần Văn K ở thôn T, xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 205/PC09-MT ngày 30/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,141g, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS-PL ngày 13/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Trần Văn K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Trần Văn K theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến thay đổi, bổ sung gì. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự: xử phạt Trần Văn K mức án từ 18 đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói và một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; trả lại Trần Văn K một chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn K và một điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như bản cáo trạng đã mô tả và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trần Văn N trình bày: Ông cho Trần Văn K mượn chiếc xe mô tô BKS 90B2-372.76 để đi uống Methadone, K sử dụng xe đi mua ma túy để sử dụng ông không biết. Nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại xe cho ông, ông không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

[3] Đánh giá về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bản kết luận của cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ và cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/11/2019 tại khu vực xóm 2, xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý, Trần Văn K đang cất giấu trái phép 0,141 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phủ Lý phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trần Văn K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo rất coi thường pháp luật.

[5] Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:

- Hình phạt chính: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Phủ Lý. Là nguyên nhân trực tiếp phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cần tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng không có mục đích trục lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng:

Đối với toàn bộ số ma túy và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng thu giữ của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ màu đen, 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn K thu giữ của bị cáo là tài sản, giấy tờ cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 chiếc xe máy BKS 90B2-372.76 là tài sản của ông Trần Văn N, ông N cho K mượn xe để đi uống Methadone nhưng không biết K sử dụng để đi mua ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông N là phù hợp pháp luật.

[7] Các tình tiết khác của vụ án: Đối với người thanh niên tên Hùng, K khai là người đi mua ma túy và đưa ma túy cho K cất giữ để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch. Ngoài lời khai của K không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Áp dụng Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn K 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 11 năm 2019.

2/ Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong dán kín mặt trước có ghi mẫu vật hoàn trả QT01, số 205/PC09-MT và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

Trả lại bị cáo Trần Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen số Imeil: 358246090303188, 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn K.

Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/01/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý.

3/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn K phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2020/HS-ST ngày 07/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:11/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về