Bản án 11/2020/HNGĐ-ST ngày 15/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 11/2020/HNGĐ-ST NGÀY 15/05/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXX-ST ngày 07 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm: 1978. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1968; Vắng mặt

Cùng trú tại: Kx đường H, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 11 năm 2019 và tại phiên họp hòa giải nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi kết hôn với ông Nguyễn Ngọc T vào năm 2000 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mẫu thuẫn do tính tính và quan điểm sống của chúng tôi không hợp nhau, vợ chồng không có sự tôn trọng lẫn nhau. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà Phạm Thị D xác định có 02 con chung: Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 2x/11/200x; Nguyễn Minh H, sinh ngày 1x/1x/20xx.

Ly hôn, tôi sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên Nguyễn Minh Hx, sinh ngày 1x/1x/20xx và ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.

Đi với con chung Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 2x/11/200x đã thành niên nên không đề cập.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà D xác định không có.

Theo bản tự khai, các phiên họp và hòa giải bị đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi thống nhất như lời trình bày của bà D về thời gian, điều kiện kết hôn. Trong quá trình chung sống chúng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nay bà D khởi kiện ly hôn, tôi không đồng ý.

Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Ngọc T xác định có 02 con chung Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 2x/11/200x; Nguyễn Minh H, sinh ngày 1x/1x/20xx.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông T xác định không có.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến như sau:

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn vẫn vắng mặt lần hai đã không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn của bà D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: a án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của bà Phạm Thị D về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Ti phiên tòa hôm nay, Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc T nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án: Bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Ngọc T đã tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 28 tháng 4 năm 2000 tại Ủy ban nhan dân phường Thanh Lộc Đán, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T là hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T. Bà D cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, cách suy nghĩ nên vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến đến cuộc sống không hạnh phúc.

Tại phiên tòa hôm nay ông T vắng mặt nhưng tại biên bản hòa giải ngày 13/02/2020 thể hiện: Ông T thì cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn nhưng ông mong bà Diệu tha thứ và cho ông một cơ hội để sữa chữa khắc phục vì ông vẫn còn yêu vợ, thương con nên ông có xin được đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái trưởng thành khi có đầy đủ cha và mẹ.

Hi đồng xét xử xét yêu cầu của các đương sự thì thấy: Mối quan hệ hôn nhân chỉ thực sự tồn tại khi cả hai vợ chồng cùng yêu thương, cùng nhau xây đắp gia đình, cïng nhau cã tr¸ch nhiÖm, ch¨m sãc còng nh• t¹o mäi ®iÒu kiÖn cho nhau trong cuéc sèng. Trong quá trình chung sống, bà D và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không sống cùng nhau, không có sự quan tâm cần thiết, ông T không có hướng phấn đấu tốt để vợ chồng có thể hòa hợp. Mặc dù, bà D đã tạo cho ông T nhiều cơ hội để sửa chữa những nhược điểm của bản thân ông nhưng ông T vẫn không khắc phục. Hiện tại cả hai ông bà không còn chung sống với nhau và phần ai nấy sống, không ai có trách nhiệm với ai trong cuộc sống. Việc ông T vẫn mong muốn bà D cho ông một cơ hội để vợ chồng hàn gắn nhưng bà D vẫn cương quyết không tha thứ, điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài và mục đích cuộc hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài quan hệ vợ chồng như vậy cũng không đem lại kết quả mà chỉ gây ra sự đau khổ cho cả hai và ảnh hưởng đến sự phát triển của con sau này. Xét thấy việc mâu thuẫn tồn tại trong đời sống vợ chồng của các đương sự là có thật, phù hợp với xác minh tại địa phương cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án cho ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Bà Phạm Thị Diệu và ông Nguyễn Ngọc T xác định trong quá trình chung sống sinh được 02 con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 2x/11/200x; Nguyễn Minh H, sinh ngày 1x/1x/20xx Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay, bà D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Minh H, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu nuôi con chung của bà D thì thấy: Cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con cái. Song việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt và quyền lợi của con để không ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của con. Tại phiên hòa giải, ông T không có ý kiến về việc ai sẽ nuôi con chung chưa thành niên nếu ông T và bà D ly hôn. Hiện nay, bà D là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đang chăm sóc dạy dỗ chu đáo và cháu đang ở độ tuổi rất cần sự yêu thương của người mẹ nên nghĩ giao cháu Nguyễn Minh H cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom và giáo dục cũng đúng với nguyện vọng của con; ông T không cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.

Đi với con chung Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 2x/xx/20xx đã thành niên nên không đề cập.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự thống nhất trình bày không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Trường hợp sau này có tranh chấp thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác để giải quyết.

[6] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị D đối với ông Nguyễn Ngọc T về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn".

Tuyên xử:

1. Cho bà Phạm Thị D được ly hôn ông Nguyễn Ngọc T. - Giao con chung tên: Nguyễn Minh H, sinh ngày 16/10/2004 cho bà Phạm Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Ngọc T không cấp dưỡng nuôi con.

Đi với con chung Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 2x/xx/20xx đã thành niên nên không đề cập.

Các đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Ngọc T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Phạm Thị D phải chịu được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0001692 ngày 06 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà D đã nộp đủ tiền án phí.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/5/2020). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2020/HNGĐ-ST ngày 15/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:11/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thanh Khê - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về