Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 09/05/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH N

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 09/05/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 09 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện G tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: anh Bùi Chí Đ, sinh năm 1986.

Đa chỉ: Xóm 4 - Thượng Hoà, xã G, huyện G, tỉnh N.

Bị đơn: Chị Lê Thị M ỹ L, sinh năm 1994.

Đa chỉ: Xóm 4 - Thượng Hoà, xã G, huyện G, tỉnh N.

Anh Đ có mặt, chị L vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 02 năm 2019 và bản tự khai nguyên đơn anh Bùi Chí Đ trình bày: Giữa anh Đ và chị Lê Thị Mỹ L có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 10/12/2014 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã G, huyện G, tỉnh N. Sau khi cưới chị L và anh Đ về chung sống với nhau tại xóm 4 - Thượng Hoà, xã G, huyện G, tỉnh N. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau trong cuộc sống. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính cách hai vợ chồng trái ngược nhau, bất đồng trong quan điểm sống, lối sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân khoảng một nửa năm trở lại đây. Hiện nay anh Đ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không thể khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị Mỹ L.

Về con chung, theo anh Đ khai vợ chồng có 02 con chung, cháu lớn là Bùi Lê Quỳnh H, sinh ngày 25/9/2015, cháu nhỏ là Bùi Lê Ngọc A, sinh ngày 05/02/2017. Kể từ khi ly thân đến nay cháu Bùi Lê Quỳnh H ở với chị L, còn cháu Bùi Lê Ngọc A ở với anh Đ. Khi ly hôn anh Đ đề nghị Tòa án giao cháu Bùi Lê Ngọc A cho anh tiếp tục trực tiếp nuôi dư ng, còn cháu Bùi Lê Quỳnh H giao cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dư ng, không ai phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Đ trình bày vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 12/3/2019, quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Lê Thị Mỹ L trình bầy: Việc kết hôn giữa chị và anh Bùi Chí Đ đúng như anh Bùi Chí Đ trình bày nêu trên. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được thời gian là khoảng 04 năm. Đến tối ngày 17/11/2018 do chị L đi tham gia văn nghệ do nhà trường nơi chị công tác tổ chức chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11/2018 thì anh Đ đã gọi điện chửi bới, xúc phạm. Khi chị L về nhà thì anh Đ tiếp tục có hành vi thô bạo đánh đập, đuổi chị ra khỏi nhà. Sau đó chị L đã thuê nhà bế cháu Bùi Lê Quỳnh H ra sống riêng. Kể từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đã đến mức trầm trọng. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, nhưng chị L không đồng ý ly hôn vì cho rằng anh Đ xúc phạm, nói những điều không đúng sự thật về chị.

Về con chung: Chị Lê Thị Mỹ L trình bầy vợ chồng có 02 con chung, cháu lớn là Bùi Lê Quỳnh H, sinh ngày 25/9/2015, cháu nhỏ là Bùi Lê Ngọc A, sinh ngày 05/02/2017. Kể từ khi ly thân đến nay cháu Bùi Lê Quỳnh H ở với chị, còn cháu Bùi Lê Ngọc A ở với anh Đ. Khi ly hôn chị L đề nghị Tòa án giao cháu Bùi Lê Ngọc A cho anh Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dư ng, còn cháu Bùi Lê Quỳnh H giao cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dư ng, không ai phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng, chị L khai vợ chồng không có tài sản và công nợ chung, không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết mối quan hệ này.

Tại phiên toà, anh Đ có mặt thừa nhận nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ngày 17/11/2018 chị L đi tham gia văn nghệ do nhà trường nơi chị L công tác tổ chức chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11/2018, nhưng chị L về muộn nên anh đã gọi điện chửi bới, xúc phạm. Khi chị L về nhà thì anh Đ tiếp tục có hành vi tát chị L một cái, đuổi chị L ra khỏi nhà, rồi sau đó chị L đã thuê nhà bế cháu Bùi Lê Quỳnh H ra sống riêng như chị L khai nêu trên là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đ ương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Lê Thị Mỹ L có địa chỉ: Xóm 4 - Thượng Hoà, xã G, huyện G, tỉnh N. Vì vậy việc Tòa án nhân dân huyện G áp dụng Điều 28; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt lần thứ nhất tại phiên tòa nhưng có lý do chính đáng vì đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng luật định.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị Lê Thị Mỹ L và anh Bùi Chí Đ là hoàn toàn hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi cưới hai người về chung sống với nhau tại xóm 4 - Thượng Hoà, xã G, huyện G, tỉnh N. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian khoảng 4 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau trong cuộc sống. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn một phần là do tính cách hai vợ chồng trái ngược nhau, bất đồng trong quan điểm sống, lối sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do tối ngày 17/11/2018 do chị L đi tham gia văn nghệ do nhà trường nơi chị công tác tổ chức chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11/2018 thì anh Đ đã gọi điện chửi bới, xúc phạm. Khi chị L về nhà thì anh Đ tiếp tục có hành vi thô bạo đánh đập, đuổi chị ra khỏi nhà. Sau đó chị L đã thuê nhà bế cháu Bùi Lê Quỳnh H ra sống riêng. Kể từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân và cả hai người không có biện pháp hữu hiệu nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Đồng thời bản thân chị L tuy không đồng ý ly hôn nhưng cũng thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đã đến mức trầm trọng. Do đó có căn cứ xác định rằng mâu thuẫn vợ chồng chị Lê Thị Mỹ L và anh Bùi Chí Đ đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Chí Đ xử cho anh Bùi Chí Đ được ly hôn chị Lê Thị Mỹ L là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Do các đương sự cùng trình bầy thống nhất nên Toà án xác định chị Lê Thị Mỹ L và anh Bùi Chí Đ có 02 con chung, cháu lớn là Bùi Lê Quỳnh H, sinh ngày 25/9/2015, cháu nhỏ là Bùi Lê Ngọc A, sinh ngày 05/02/2017. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cháu Bùi Lê Quỳnh H ở với chị L, còn cháu Bùi Lê Ngọc A ở với anh Đ. Khi ly hôn chị L và anh Đ cùng đề nghị Tòa án giao cháu Bùi Lê Ngọc A cho anh Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dư ng, còn cháu Bùi Lê Quỳnh H giao cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dư ng, không ai phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau. Đề nghị của các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các bên đương sự đều thừa nhận không có tài sản chung, công nợ chung.

[5] Về án phí: Anh Bùi Chí Đ phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,:

1. Xử cho anh Bùi Chí Đ được ly hôn vắng mặt chị Lê Thị Mỹ L.

2. Về con chung: Giao cho anh Bùi Chí Đ tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dư ng và giáo dục cháu Bùi Lê Ngọc A sinh ngày 05/02/2017 cho đến khi cháu Bùi Lê Ngọc A đủ 18 tuổi. Giao cho chị Lê Thị Mỹ L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dư ng và giáo dục cháu Bùi Lê Quỳnh H, sinh ngày 25/9/2015 cho đến khi cháu Bùi Lê Quỳnh H đủ 18 tuổi. Anh Đ và chị L không phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau. Không ai được ngăn cản quyền gặp g và chăm sóc con chung.

3. Về án phí:

Anh Bùi Chí Đ phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện G theo biên lai số AA/2013/0001176 ngày 21/02/2019.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 09/05/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 09/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về